Nữ đại gia Chu Thị Thành nộp lại 99 tỷ đồng: Có được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự?
Bị cáo buộc tham ô hơn 79 tỷ và thu lợi 20,7 tỷ đồng từ bán hóa đơn, nữ đại gia xăng dầu Chu Thị Thành, đã nộp khắc phục hơn 99 tỷ đồng.
Ngày 2/11, TAND TP Hà Nội mở phiên tòa xét xử Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiên Minh Đức Chu Thị Thành (mẹ "đại gia kim cương" Chu Đăng Khoa) về 2 tội Tham ô tài sản và Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Cùng bị xét xử trong vụ án còn có 22 bị cáo khác.
Đáng chú ý, trước phiên tòa, toàn bộ số tiền hậu quả đã được khắc phục, trong đó riêng bị cáo Chu Thị Thành đã nộp hơn 99 tỷ đồng.

Bị cáo Chu Thị Thành
Nộp lại hơn 99 tỷ đồng có là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự?
Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, TS.LS Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp cho rằng, trong vụ án trên, vấn đề pháp lý quan trọng cần được Hội đồng xét xử làm rõ là tính chất pháp lý của khoản tiền thuộc Quỹ bình ổn giá xăng dầu, cơ chế quản lý, sử dụng khoản tiền đó, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình trích lập, quản lý quỹ, cũng như hành vi cụ thể của từng bị cáo. Nếu có đủ căn cứ xác định người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng vị trí quản lý để chiếm đoạt tài sản thuộc phạm vi mình quản lý, việc xử lý về tội Tham ô tài sản là có cơ sở pháp lý.
Về hình phạt, nếu bị kết tội về tội Tham ô tài sản theo khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể phải đối mặt với hình phạt tù chung thân. Trường hợp Tòa án quyết định hình phạt tù có thời hạn, mức hình phạt tù có thời hạn không vượt quá 30 năm, theo quy định về tổng hợp hình phạt tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Đối với tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, Điều 203 Bộ luật Hình sự, ở khung hình phạt nặng nhất, người phạm tội có thể bị phạt tiền đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù đến 5 năm, cùng với các hình phạt bổ sung theo quy định.
Trong vụ án này, nếu số tiền hơn 99 tỷ đồng mà bà Chu Thị Thành đã nộp được xác định là khoản tiền dùng để hoàn trả tài sản bị chiếm đoạt, khắc phục thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ hành vi phạm tội thì đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa đáng kể khi Hội đồng xét xử quyết định hình phạt.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề này ở cả hai phương diện. Thứ nhất, việc tự nguyện nộp lại tài sản thể hiện thái độ khắc phục hậu quả, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, hậu quả không chỉ nằm ở việc tài sản bị chiếm đoạt mà còn ở những tổn thất đối với hoạt động quản lý, điều hành kinh tế và niềm tin của xã hội. Việc thu hồi tài sản, khắc phục thiệt hại vì vậy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Thứ hai, hành vi khắc phục hậu quả có thể phản ánh thái độ của người phạm tội sau khi hành vi vi phạm bị phát hiện. Nếu việc nộp lại tiền xuất phát từ sự tự nguyện, chủ động, thực chất, không phải chỉ là kết quả của việc kê biên, cưỡng chế hoặc thu giữ tài sản thì đây là yếu tố cần được đánh giá khi xem xét mức độ ăn năn, hối cải và khả năng cải tạo của người phạm tội.
Song cũng cần phân biệt giữa việc tự nguyện khắc phục hậu quả với việc tài sản bị cơ quan chức năng thu giữ, phong tỏa hoặc cưỡng chế thu hồi. Không phải mọi trường hợp tài sản được thu hồi đều đương nhiên được đánh giá như nhau. Tòa án cần xem xét nguồn gốc khoản tiền, thời điểm nộp, tính chủ động, thái độ hợp tác và mức độ thực chất của việc khắc phục hậu quả.
Ngoài ra, nếu tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng và có thêm những tình tiết giảm nhẹ khác thì các yếu tố này cũng cần được xem xét một cách toàn diện.
Tuy nhiên, mức độ giảm nhẹ đến đâu còn phụ thuộc vào toàn bộ hồ sơ vụ án, tính chất hành vi, hậu quả, vai trò của bị cáo và các tình tiết khác.
Theo khoản 1 Điều 54, trong trường hợp bị cáo có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ, trong đó có tình tiết tự nguyện khắc phục hậu quả và tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thì có thể được xem xét áp dụng Điều 54 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đang áp dụng, nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây là quyền cân nhắc của tòa án, không phải cứ có hai tình tiết giảm nhẹ là đương nhiên được xử dưới khung. Hội đồng xét xử vẫn phải đánh giá tổng thể tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả, vai trò của bị cáo và các căn cứ quyết định hình phạt khác.

TS.LS Đặng Văn Cường
Chính sách khoan hồng không đồng nghĩa với việc không xử lý hành vi tham nhũng
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương quan trọng nhằm hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng phân định rõ vi phạm hành chính, dân sự, kinh tế với tội phạm hình sự; hạn chế hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; đồng thời bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung. Tinh thần này được thể hiện rõ tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Luật sư Cường cho rằng, cần phải hiểu đúng phạm vi của chính sách này. Không hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự không có nghĩa là mọi hành vi vi phạm xảy ra trong doanh nghiệp đều được giải quyết bằng biện pháp dân sự hoặc hành chính. Khi hành vi đã có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, đặc biệt là hành vi chiếm đoạt tài sản, tham nhũng, trục lợi, làm giả chứng từ, hóa đơn để thu lợi bất chính thì vẫn phải được xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.
Theo Điều 5, Nghị quyết số 37/2026/QH16 của Quốc hội, việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đòi hỏi phải đáp ứng đồng thời các điều kiện luật định, trong đó có điều kiện không tham nhũng, vì lợi ích chung, hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã được giải quyết dứt điểm; không gây thất thoát, lãng phí tài sản hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại.
Trong khi đó, tội Tham ô tài sản tại Điều 353 Bộ luật Hình sự là một trong những tội phạm về tham nhũng. Bởi vậy, nếu hành vi tham ô tài sản được chứng minh và xác định là có thật thì người thực hiện hành vi không đáp ứng điều kiện không tham nhũng để được hưởng cơ chế không truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 5 Nghị quyết số 37/2026/QH16. Nói cách khác, không thể viện dẫn việc đã nộp lại toàn bộ tiền chiếm đoạt để cho rằng người thực hiện hành vi tham ô đương nhiên được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết số 37.
Đối với tội Mua bán trái phép hóa đơn, việc xem xét áp dụng Nghị quyết số 37 cũng phải căn cứ vào đầy đủ các điều kiện luật định và tính chất thực tế của hành vi. Không thể tách riêng hành vi mua bán hóa đơn khỏi toàn bộ bối cảnh vụ án để mặc nhiên kết luận được miễn trách nhiệm hình sự, nhất là khi hành vi này có liên quan trực tiếp đến phương thức thực hiện, che giấu hoặc hợp thức hóa hành vi tham ô bị cáo buộc.
Nghị quyết số 37 không thiết lập cơ chế cứ khắc phục toàn bộ hậu quả là đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Việc khắc phục hậu quả chỉ có ý nghĩa trong khuôn khổ những điều kiện cụ thể mà Nghị quyết quy định. Đối với hành vi tham nhũng, chính sách vẫn đặt ra yêu cầu xử lý nghiêm minh.
Đặc biệt, cần tránh tình trạng hình sự hóa trách nhiệm của những người lao động cấp dưới chỉ vì họ có tham gia một khâu trong quy trình nghiệp vụ. Việc áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với người giúp sức có vai trò không đáng kể, nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định, là một cơ chế quan trọng để bảo đảm công bằng trong xử lý đồng phạm.
Từ vụ án này, luật sư Cường cũng cho rằng cần nhìn nhận chính sách hình sự hiện nay theo hướng vừa bảo đảm tính nghiêm minh, vừa thể hiện tính nhân văn, nhân đạo.
Đối với các tội phạm về kinh tế, việc thu hồi tài sản, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc bà Chu Thị Thành nộp lại hơn 99 tỷ đồng là một tình tiết có ý nghĩa đáng kể cần được Hội đồng xét xử đánh giá khi lượng hình. Song việc nộp lại tiền không làm thay đổi bản chất hành vi tham ô nếu tội phạm đã hoàn thành, không làm mất đi trách nhiệm hình sự và không đương nhiên trở thành căn cứ để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết số 37/2026/QH16.
Mời độc giả xem thêm video Khởi tố Huấn Hoa Hồng:
