Nước mắt ngày đoàn viên
Đã hơn 50 năm đất nước thống nhất, những người lính từng một thời xông pha trong 'mưa bom, bão đạn' nay đều ở tuổi chân chậm, mắt mờ, nhiều người đã đi xa. Non sông thống nhất, đất nước trọn niềm vui với bao cuộc đoàn tụ gia đình. Đã có bao giọt nước mắt rơi vì hạnh phúc.

Cựu chiến binh các thế hệ ở phường Quan Triều chia sẻ câu chuyện dịp gặp lại người thân ngày 30/4/1975.
"Nhà tôi có 5 anh em trai thì 4 người đi bộ đội. 1 người hy sinh, 4 anh em lần lượt trở về trong niềm vui của đoàn quân chiến thắng. Ngày hội ngộ, các cụ thân sinh mừng rỡ, ôm chầm lấy chúng tôi như thuở còn thơ dại" - cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Ngọc Màu, tổ 32, phường Phan Đình Phùng, bắt đầu câu chuyện về những ngày tháng đánh giặc và niềm vui ngày trở về. Ánh huy chương lấp lánh trên ngực áo ông.
Ở mặt trận, tên ông bị địch réo gọi, treo thưởng trên loa phóng thanh từ máy bay trực thăng. Ở quê nhà, người thân nghe radio nói ông đã chết trận. Những thông tin không chính xác ấy làm bao người thân đau lòng. Nhưng ông đã trở về sau ngày 30/4/1975. Quà tặng bố mẹ là 6 lần ông được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Ngụy, xe cơ giới. Hôm gặp lại, các cụ thân sinh đã khóc trong cảm xúc vui mừng.
Cùng cả nước nhất tâm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại miền Nam yêu dấu. Trong hơn 30 năm, tỉnh Thái nguyên đã có hàng nghìn người con ưu tú lên đường. Ngày đất nước thống nhất, hạnh phúc vỡ òa trong niềm reo vui chiến thắng. Mừng đấy mà nước mắt rơi cùng tiếng trách yêu đến nghẹn lòng.
Câu chuyện của CCB, Dũng sĩ diệt Mỹ, ông Nguyễn Văn Lệ, xóm Soi Mít, xã Đại Phúc, vào một chiều 30-4 từ ít năm trước đây luôn gợi trong tôi một sự liên tưởng về ngày đoàn viên sau kết thúc chiến tranh.
Giữa cờ hoa phấn chấn, không khí mừng ngày đất nước thống nhất tưng bừng, thì ở một góc làng quê, trong mái nhà tranh bé nhỏ ngày bấy giờ, anh Lệ - một người lính giải phóng quân với chiếc ba lô bạc màu, chiếc mũ tai bèo đứng “chết lặng” nghe vợ hờn trách: Mẹ con tôi tưởng anh đã nằm lại nơi chiến trận vì hòn tên mũi đạn. Anh tệ lắm, đi miết mà không một lá thư, không một lời nhắn.
Ông Lệ cũng thấy mình như có lỗi với vợ con. Ông ngồi đó, nhẩn nha nghĩ rồi bảo: Tội nghiệp vợ con ở nhà cực khổ quá. Còn tôi đã đi biền biệt theo các trận đánh ở chiến trường miền Nam, hơn 3.800 ngày mới trở về… Ông Lệ cưới bà Lê Thị Thu năm 1962. Đến tháng 5-1965 nhập ngũ.
Vì nhiệm vụ thời đất nước có chiến tranh, đến tháng 2-1976, ông mới được về phép. Cũng sau kỳ phép duy nhất của thời quân ngũ vì khi trở lại đơn vị, ông báo cáo với chỉ huy: Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đất nước thống nhất, nguyện vọng của tôi là được trở về bên gia đình, bù đắp cho vợ con những tháng ngày mòn mỏi chờ tin chồng.

Cán bộ, hội viên cựu chiến binh trao đổi kinh nghiệm đầu tư phát triển sản xuất tại Công ty TNHH Cơ khí và Thương mại Nhân Đức, xã Vô Tranh.
Chiến tranh đã cuốn vào mặt trận bao người tuổi thanh xuân. Đã có hàng nghìn người con Thái Nguyên tình nguyện tòng quân giết giặc, nhưng không phải ai cũng may mắn trở về như ông Màu, ông Lệ. Toàn tỉnh có gần 13.000 liệt sĩ; 689 phụ nữ được phong tặng, truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Đã có bao mong chờ trong khắc khoải. Tôi còn nhớ câu chuyện của Mẹ Việt Nam Anh hùng, cụ Đặng Thị Thái, xóm Hái Hoa 2, xã Phú Lương. Mẹ có 2 người con là liệt sĩ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 1 người đã được đưa về nghĩa trang quê nhà, còn 1 người mẹ chưa tìm được. Và mẹ đã không chờ đợi được ngày gặp lại một khúc ruột đau.
Những người Mẹ Việt Nam Anh hùng đã nén giấu đi cảm xúc đau đớn khi biết tin con mình không bao giờ trở về. Dù biết như thế, nhưng lòng mẹ mong mỏi phép mầu nhiệm đến. Vào một ngày nào đó con trở về bằng hình hài mẹ cho, để đoàn tụ cùng gia đình. Tôi còn nhớ hôm ấy, một ngày đầy nắng lửa năm 2013, mẹ Lâm Thị Tư, ở tổ Đồng Bẩm, phường Linh Sơn, chống gậy đến bên hài cốt của con trai mới được đón về từ Tây Ninh.
Bên di cốt liệt sĩ, mẹ nói rành rẽ từng từ: “Không biết đây có chính xác là con của mẹ hay không... nhưng không sao, cứ là bộ đội thì là con của mẹ rồi”. Mọi người có mặt trong lễ truy điệu anh linh liệt sĩ đều thấy lòng nghẹn đắng. Và mẹ Tư, người Mẹ Việt Nam Anh hùng đã có một nụ cười nhẹ nhàng mãn nguyện vì được gặp lại con trước ngày mẹ trở về với thế giới người hiền.
Để có ngày đoàn tụ hai miền Nam - Bắc, cả đất nước phải đánh đổi bằng bao máu xương. Và câu chuyện hội ngộ tháng Tư không bao giờ phai nhạt trong dòng máu người Việt Nam. Cũng những ngày tháng Tư năm nay, tìm lại đã có bao người dũng sĩ tôi gặp năm nào đã hóa thân về miền cổ tích, hoặc đang ở tuổi “nhân sinh mấy nay hiếm”. CCB Trần Xuân Thành, tổ 56, phường Phan Đình Phùng, là một trong những người ở tuổi hiếm ấy.

Cựu chiến binh Trần Xuân Thành (ngồi giữa) 2 lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.
Tuổi đã cao, nhưng ông vẫn giữ nguyên phong thái của một người lính từng xông pha trận mạc. Khi tôi hỏi về cảm xúc ngày ông trở về đoàn viên cùng gia đình, ông mỉm cười phúc hậu rồi dẫn tôi lên tầng trên của ngôi nhà, nơi lưu giữ những kỷ vật của một đời binh nghiệp.
Ông cẩn thận mở từng ngăn, lần lượt cho tôi xem những dấu tích còn lại của chiến trường. Có tấm dù của đội kỵ binh bay Mỹ, có cả tấm dù của lính thủy đánh bộ Mỹ. Đó là những chiến lợi phẩm thu được sau các trận đánh ác liệt. Người lính năm xưa từng chia nhau, tận dụng chúng làm màn, làm võng, nằm nghỉ giữa đêm rừng để tránh muỗi vắt. Ông còn đưa tôi xem một bình hoa được chế tác công phu từ vỏ cát tút của quả đạn pháo 122 ly, như một cách lưu giữ ký ức chiến tranh theo thời gian.
Đời binh nghiệp, ông được Đảng, Nhà nước trao tặng 12 huân chương các loại, 2 lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt mỹ…
Như chợt nhớ ra câu hỏi của tôi, ông nói: Năm 1964 tôi được đơn vị thưởng cho 4 ngày phép. Về tới nhà, ba lô chưa kịp bỏ xuống thì các cụ thân sinh “ban lệnh khẩn”: Phải lấy vợ. Người vợ các cụ dạm sẵn cho là cô Đào Thị Tuyết, cùng thôn. Ở với nhau được 2 ngày thì tôi trở lại đơn vị trả phép. Vậy là đi biền biệt, sau ngày đất nước thống nhất mới có dịp trở về đoàn tụ cùng gia đình. Gần 10 năm không tin tức, cô ấy chờ đợi tôi trong vô vọng. Nên thấy tôi, cô ấy không ôm hoa chạy ra ôm chồng như trên phim ảnh, mà khóc “rống” lên, chạy vào buồng.
Đỡ lời chồng, bà Tuyết nói nhẹ nhàng: 10 năm là hơn 3.600 ngày làm vợ trong chờ đợi. Nhất là hồi bấy giờ, thỉnh thoảng ở địa phương lại có gia đình nhận được giấy báo tử của chồng con. Tôi đã khóc vì hạnh phúc.
Nước mắt ngày đoàn viên, dẫu vui hay buồn, vẫn lấp lánh một niềm thiêng liêng không gì sánh được. Đó là giá của hòa bình, là ký ức không thể phai mờ trong mỗi gia đình, mỗi con người.
Tháng Tư trở lại, nhắc chúng ta biết trân quý hiện tại, sống xứng đáng với những hy sinh đã hóa thành Tổ quốc hôm nay.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/xa-hoi/202605/nuoc-mat-ngay-doan-vien-4c9491d/











