Nuôi tôm càng xanh 2 giai đoạn: Tăng hiệu quả, giảm rủi ro

Trước những hạn chế của phương thức nuôi truyền thống, nhất là thời gian nuôi dài, dễ gặp rủi ro do thời tiết, năng suất chưa cao, mô hình nuôi tôm càng xanh 2 giai đoạn do Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực khi giúp rút ngắn thời gian nuôi, nâng tỉ lệ sống, cải thiện năng suất và mang lại lợi nhuận cao hơn cho người nuôi.

Nhiều năm nuôi tôm càng xanh, ông Phan Minh Dĩnh ở thôn Thành Công, xã Nam Cửa Việt chủ yếu thực hiện theo phương thức truyền thống. Việc đầu tư chưa đồng bộ, khó kiểm soát môi trường ao nuôi khiến năng suất và hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao.

Đặc biệt, vào những năm mưa lũ đến sớm, ông phải tính chuyện thu hoạch trước thời điểm tôm đạt kích cỡ tốt để tránh thất thoát, nên hiệu quả càng giảm. Năm 2026, được Trung tâm Khuyến nông tỉnh hỗ trợ, ông Dĩnh mạnh dạn đăng ký thực hiện mô hình nuôi tôm càng xanh 2 giai đoạn trên diện tích 0,6ha.

Mô hình nuôi tôm càng xanh 2 giai đoạn tại xã Nam Cửa Việt - Ảnh: L.A

Mô hình nuôi tôm càng xanh 2 giai đoạn tại xã Nam Cửa Việt - Ảnh: L.A

Theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, trước khi thả giống, ông Dĩnh tiến hành cải tạo thêm một ao ương có diện tích khoảng 800m²; đồng thời gia cố bờ bao khu vực nuôi chắc chắn, tu sửa hệ thống cấp thoát nước chủ động và bố trí lưới xung quanh ao để hạn chế địch hại; đầu tư máy bơm, máy phát điện và các thiết bị cần thiết phục vụ quá trình nuôi.

Ông Dĩnh cho biết, khác với cách thả trực tiếp tôm giống ra diện tích nuôi lớn, mô hình chia quá trình nuôi thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu, 120.000 con tôm càng xanh toàn đực cỡ PL20 được thả vào ao ương với mật độ khoảng 150 con/m². Sau 30-50 ngày ương nuôi, khi tôm đạt kích cỡ khoảng 125-170 con/kg thì được chuyển sang giai đoạn nuôi thương phẩm trong ao lớn với mật độ khoảng 20 con/m².

Ông Dĩnh cho biết, ưu điểm của cách nuôi này là tôm giống được chăm sóc tập trung trong diện tích nhỏ ở giai đoạn đầu nên thuận lợi hơn trong kiểm soát môi trường, thức ăn và sức khỏe đàn tôm. Khi chuyển sang ao nuôi lớn, tôm đã có kích thước tương đối, sức khỏe tốt hơn nên hạn chế được phần nào rủi ro.

Quá trình chăm sóc cũng được thực hiện chặt chẽ hơn. Lượng thức ăn được điều chỉnh theo từng giai đoạn phát triển, khả năng bắt mồi và tình hình thời tiết. Các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, độ kiềm, ôxy hòa tan được kiểm tra định kỳ. Trong ao còn bố trí chà làm nơi trú ẩn cho tôm trong thời điểm lột xác, qua đó hạn chế tình trạng tôm ăn lẫn nhau, một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tỉ lệ sống.

Kiểm tra kích cỡ, chất lượng tôm càng xanh tại mô hình nuôi 2 giai đoạn - Ảnh: L.A

Kiểm tra kích cỡ, chất lượng tôm càng xanh tại mô hình nuôi 2 giai đoạn - Ảnh: L.A

Kết quả sau gần 6 tháng thả nuôi, tôm đạt kích cỡ bình quân 25 con/kg; tỉ lệ sống của tôm ở giai đoạn 1 đạt khoảng 90%, giai đoạn 2 đạt khoảng 63%. Sản lượng ước tính đạt khoảng 2,7 tấn, tương đương năng suất trên 4,5 tấn/ha. Với giá bán bình quân 260.000 đồng/kg, trừ chi phí ước tính mô hình cho lợi nhuận trên 250 triệu đồng.

Theo đánh giá của ông Dĩnh, so với cách nuôi truyền thống, mô hình cho tỉ lệ sống cao hơn, kích cỡ đồng đều hơn và năng suất được cải thiện rõ rệt.

“Qua vụ nuôi này, tôi thấy cách chia thành 2 giai đoạn giúp việc quản lý tôm giống và môi trường thuận lợi hơn. Tôm sau khi ương đạt kích cỡ rồi mới chuyển sang nuôi thương phẩm nên khỏe hơn, tỉ lệ sống cũng tốt hơn. Hiện tại tôi đang tiếp tục nuôi để tôm đạt kích cỡ lớn hơn, nâng cao giá trị thương phẩm khi thu hoạch”, ông Dĩnh chia sẻ.

Theo Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phan Văn Phương, xã Nam Cửa Việt nói riêng và các địa phương vùng đồng bằng nói chung có nhiều diện tích thấp trũng, ao hồ và vùng sản xuất nông nghiệp phù hợp nuôi các đối tượng thủy sản nước ngọt.

Tuy nhiên, người dân chủ yếu vẫn sản xuất theo hình thức truyền thống, chủ yếu là nuôi trong ao và nuôi kết hợp trên ruộng lúa, bộc lộ nhiều hạn chế về năng suất và hiệu quả. Trong đó, rủi ro lớn nhất là thời tiết bất lợi như mưa lũ buộc nhiều hộ phải thu hoạch trước thời điểm dự kiến để tránh thất thoát. Tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm nên giá bán thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nuôi. Đây cũng là một trong những lý do Trung tâm Khuyến nông tỉnh lựa chọn quy trình nuôi 2 giai đoạn nhằm giúp người dân chủ động hơn trong sản xuất.

Kết quả bước đầu cho thấy việc phân chia chu kỳ nuôi thành 2 giai đoạn giúp người nuôi chủ động hơn trong quản lý đàn tôm, giảm rủi ro ở giai đoạn tôm còn nhỏ, thời điểm dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường và dịch bệnh. Khi được chuyển sang giai đoạn nuôi thương phẩm tôm đã đạt kích cỡ lớn hơn, qua đó rút ngắn thời gian nuôi ngoài ao lớn, giúp hạn chế rủi ro trước những biến động của thời tiết.

Sau 4,5 tháng nuôi, tôm càng xanh nuôi theo quy trình 2 giai đoạn đã đạt kích cỡ 25 con/kg - Ảnh: L.A

Sau 4,5 tháng nuôi, tôm càng xanh nuôi theo quy trình 2 giai đoạn đã đạt kích cỡ 25 con/kg - Ảnh: L.A

Cụ thể, đối với phương thức nuôi một giai đoạn thông thường, để tôm nuôi đạt kích cỡ 25 con/kg, thời gian nuôi phải kéo dài từ 6-7 tháng thì tại mô hình này, chỉ sau khoảng 4-5 tháng nuôi tôm đã đạt yêu cầu về kích cỡ. Việc rút ngắn thời gian nuôi không chỉ giúp người nuôi chủ động hơn trong việc thu hoạch mà còn giảm nguy cơ thiệt hại khi thời tiết diễn biến bất lợi.

Thông qua mô hình, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đánh giá đây là hướng sản xuất phù hợp với quy mô hộ gia đình, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi tại các vùng nước ngọt, thay vì chỉ phụ thuộc vào những đối tượng truyền thống. Quá trình triển khai cũng giúp người dân tiếp cận với phương pháp sản xuất mới, từng bước nâng cao kỹ năng quản lý ao nuôi, sử dụng thức ăn hợp lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

“Qua đánh giá thực tế, phương thức nuôi này giúp tỉ lệ sống của tôm được cải thiện rõ rệt, tăng từ 15-30% so với nuôi một giai đoạn truyền thống”, ông Phương khẳng định.

Tuy nhiên, ông Phương cũng lưu ý, do tôm càng xanh có đặc tính ăn lẫn nhau, nhất là trong giai đoạn lột xác, vì vậy việc bố trí nơi trú ẩn trong ao nuôi, quản lý mật độ, kiểm soát lượng thức ăn là những yếu tố quan trọng quyết định tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của tôm. Nguồn giống chất lượng tại địa phương hiện chưa chủ động, việc vận chuyển từ nơi khác về làm tăng chi phí và tiềm ẩn rủi ro trong quá trình sản xuất.

Bên cạnh đó, hiện nay, tôm càng xanh chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường trong tỉnh và một số địa phương lân cận, chưa hình thành được hệ thống thu mua ổn định với sản lượng lớn. Do vậy, cùng với việc chuyển giao kỹ thuật, kết nối thị trường, xây dựng liên kết tiêu thụ sẽ là yếu tố quan trọng để người dân yên tâm mở rộng sản xuất.

“Trên cơ sở này, Trung tâm Khuyến nông tỉnh sẽ tiếp tục theo dõi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, hỗ trợ người dân trong lựa chọn con giống, quản lý môi trường ao nuôi, phòng ngừa rủi ro và từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất tại những vùng có điều kiện phù hợp. Qua đó, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, khai thác tốt tiềm năng vùng nước ngọt và nâng cao thu nhập cho người dân”, ông Phương cho biết thêm.

Lê An

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/kinh-te/202609/nuoi-tom-cang-xanh-2-giai-doan-tang-hieu-qua-giam-rui-ro-1085638/