Ở nhờ gần 50 năm, gia đình ở TPHCM không chịu trả nhà còn đòi quyền sở hữu
Sau gần 50 năm ở nhờ tại TPHCM, một gia đình không những không trả lại nhà mà còn đòi xác lập quyền sở hữu. Vụ việc gây chú ý khi toàn bộ giao dịch chỉ dựa trên thỏa thuận miệng, không có giấy tờ pháp lý.
Từ thuê nhà đến được cho ở nhờ
Theo hồ sơ vụ án, căn nhà số 28B tọa lạc tại trung tâm TPHCM có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông B. Hai người lần lượt qua đời vào các năm 1961 và 1991. Vợ chồng ông B. đã mua và hợp thức hóa nhà đất từ năm 1953. Đến năm 1959, ông S. vào ở tại căn nhà với tư cách người thuê và có trả tiền thuê hằng tháng.
Sau năm 1975, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ông S. ngừng trả tiền thuê nhưng vẫn tiếp tục sinh sống trong căn nhà.
Theo ông N. (con trai duy nhất của vợ chồng ông B.), trong suốt quá trình sử dụng, ông S. nhiều lần kê khai rõ nguồn gốc nhà đất thuộc sở hữu của cha mẹ ông. Sau khi mẹ qua đời, ông N. đã nhiều lần yêu cầu ông S. trả lại nhà nhưng không được chấp nhận.
Ông N. khẳng định không hề có việc chuyển nhượng nhà đất cho ông S. Các tài liệu thể hiện việc ông S. khai nhận đã “mua lại” căn nhà từ năm 1959 chỉ là lời nói miệng, không có giấy tờ hợp pháp.
Thậm chí, trong các bản kê khai khác nhau, ông S. đưa ra những thông tin mâu thuẫn về nguồn gốc căn nhà: có lúc khai mua từ người khác, có lúc lại khai mua từ cha của ông N.

Ảnh minh họa: Nguyễn Huế
Ngoài ra, vào năm 1988, ông S. và một số cá nhân liên quan từng xin phép gia đình ông N. cơi nới phần gác, đồng thời cam kết sẽ tháo dỡ khi có yêu cầu mà không đòi bồi thường. Theo ông N., điều này càng chứng minh ông S. chỉ là người ở nhờ, không phải chủ sở hữu.
Ở chiều ngược lại, ông S. cho rằng gia đình ông đã nhận chuyển nhượng căn nhà từ năm 1959 với giá tương đương 7 lượng vàng, dù không lập văn bản. Ông cũng cho biết đã bỏ công sức, chi phí xây dựng, sửa chữa nhà và sử dụng ổn định trong thời gian dài, đồng thời đề nghị được công nhận quyền sở hữu theo thời hiệu chiếm hữu.
Không công nhận quyền sở hữu nhà của bên được cho ở nhờ
Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ và lời khai, Hội đồng xét xử TAND TPHCM nhận định không có căn cứ pháp lý chứng minh việc chuyển nhượng hợp pháp giữa vợ chồng ông B. và ông S. Ngược lại, nhiều tài liệu qua các thời kỳ đều thể hiện chủ sở hữu nhà đất vẫn là vợ chồng ông B.
Tòa án xác định ông N. là người thừa kế hợp pháp duy nhất của hai chủ sở hữu ban đầu. Do đó, quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà tại địa chỉ trên thuộc về gia đình ông N.
Từ đó, TAND TPHCM chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc ông S. và những người đang cư trú tại đây phải trả lại toàn bộ nhà đất cho ông N. Đồng thời, tòa ghi nhận sự tự nguyện của ông N. trong việc hỗ trợ ông S. số tiền 600 triệu đồng, bao gồm chi phí xây dựng và công sức bảo quản tài sản.
Không đồng ý với phán quyết trên, ông S. và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã đồng loạt kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn cho rằng căn nhà đã được xây dựng lại từ năm 1962 và có sự không thống nhất trong việc xác định thửa đất qua các thời kỳ. Đồng thời, họ đề nghị làm rõ quyền sở hữu và xem xét công nhận quyền sở hữu theo thời hiệu chiếm hữu.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định rằng, dù gia đình ông S. sinh sống tại căn nhà từ năm 1959, nhưng không chứng minh được việc nhận chuyển nhượng hợp pháp. Ngược lại, các tài liệu cho thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của cha mẹ ông N., và việc sử dụng của gia đình ông S. chỉ mang tính chất ở nhờ. Do đó, yêu cầu đòi lại nhà của ông N. là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, TAND cấp cao tại TPHCM quyết định không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.












