PGS.TS Bùi Hoài Sơn: 'Văn hóa cần hiện diện mỗi ngày, không chỉ trong một ngày hội'
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 cần được nhìn nhận như một “cú hích” để hình thành thói quen, nhu cầu và trách nhiệm văn hóa trong đời sống, thay vì chỉ là một sự kiện diễn ra trong một ngày. Muốn vậy, văn hóa phải hiện diện thường xuyên trong cộng đồng, nhà trường, không gian công cộng và cả môi trường số.
Từ một ngày hội đến những thay đổi lâu dài
Chia sẻ với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận về ý nghĩa của Ngày Văn hóa Việt Nam, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, điều quan trọng nhất là không nhìn đây như một sự kiện đơn lẻ. Ngày Văn hóa Việt Nam cần trở thành điểm nhấn để khơi dậy nhu cầu, thói quen và trách nhiệm văn hóa của mỗi người trong đời sống hằng ngày.
Theo ông, giá trị của Ngày Văn hóa Việt Nam không nên chỉ được đo bằng số lượng chương trình, sân khấu hay người tham dự trong thời điểm tổ chức, mà cần được nhìn từ những thay đổi sau đó: người dân đến bảo tàng nhiều hơn, đọc sách nhiều hơn, quan tâm đến di sản, tham gia sáng tạo nghệ thuật và có ý thức hơn trong xây dựng môi trường sống văn minh.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn. Ảnh: Bộ VHTTDL
Tinh thần này phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước.
Ông Sơn cho rằng cần chuyển từ tư duy “tổ chức hoạt động” sang “kiến tạo đời sống văn hóa”. Mỗi chương trình của Ngày Văn hóa Việt Nam nên để lại một sản phẩm, mô hình, không gian hoặc thói quen có khả năng tiếp tục tồn tại sau ngày 24/11.
Ngày Văn hóa Việt Nam vì thế nên được xem là một “cú hích” cho cả năm. Từ đó có thể hình thành các chương trình nối dài như tháng đọc sách, mùa trải nghiệm di sản, nghệ thuật cộng đồng, tuyến phố sáng tạo, câu lạc bộ văn hóa cơ sở, đưa nghệ sĩ đến trường học hay đưa học sinh tới bảo tàng.
Đưa văn hóa về với cộng đồng
Một trong những yêu cầu quan trọng để văn hóa thực sự đi vào đời sống là thay đổi vai trò của người dân. Theo ông Sơn, cần chuyển từ mô hình “cơ quan tổ chức - người dân đến xem” sang “cộng đồng cùng đề xuất - cùng tổ chức - cùng sáng tạo - cùng hưởng thụ”.
Người dân chỉ thực sự trở thành chủ thể khi được tham gia từ việc lựa chọn nội dung, thiết kế hoạt động, sử dụng không gian đến đánh giá hiệu quả. Khi cộng đồng trực tiếp kể câu chuyện về vùng đất, di sản và đời sống của mình, các hoạt động văn hóa sẽ có sức sống tự nhiên hơn.
Cùng với đó, không gian văn hóa cũng cần được mở rộng. Văn hóa không chỉ hiện diện trong nhà hát, bảo tàng hay hội trường mà cần đến với quảng trường, công viên, phố đi bộ, khu dân cư, nhà văn hóa, trường học, khu đô thị, khu công nghiệp và các nền tảng số.
Theo ông, thước đo quan trọng là mức độ tham gia tự nguyện, thường xuyên và sự hài lòng thực chất của người dân. Đây cũng là cách để khắc phục tình trạng hành chính hóa, phô trương, hình thức trong tổ chức các hoạt động văn hóa.
Ngoài ra, nhà trường được ông xác định là một trong những môi trường quan trọng để hình thành nhận thức, thị hiếu và thói quen văn hóa cho thế hệ trẻ.
Ông Sơn cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận di sản trong giáo dục. Nếu di sản chỉ xuất hiện trong sách giáo khoa dưới dạng niên đại, khái niệm và kiến thức cần ghi nhớ, việc hình thành tình yêu văn hóa sẽ khó đạt hiệu quả. Ngược lại, khi học sinh được trực tiếp trải nghiệm, nghe nghệ nhân kể chuyện, thử làm sản phẩm thủ công, khám phá di tích bằng công nghệ số hay thực hiện các dự án sáng tạo, di sản sẽ trở thành một phần của đời sống.
Vì vậy, cần chuyển từ “dạy về văn hóa” sang “giáo dục bằng văn hóa và thông qua trải nghiệm văn hóa”. Các địa phương có thể xây dựng bản đồ học tập di sản, kết nối trường học với bảo tàng, di tích, nghệ nhân, nhà hát, thư viện và các không gian sáng tạo. Cùng với đó, học sinh có thể trở thành những người kể chuyện mới của di sản thông qua phim ngắn, podcast, hoạt hình, trò chơi, thiết kế số hoặc các dự án sáng tạo.
Tuy nhiên, ông Sơn lưu ý, đổi mới không đồng nghĩa với làm sai lệch giá trị truyền thống. Theo ông, càng sáng tạo càng phải hiểu đúng cái lõi của di sản. Khi người trẻ nhận thức di sản không phải là “chuyện của quá khứ” mà là một phần căn cước và nguồn lực sáng tạo cho tương lai, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa sẽ có thêm nền tảng bền vững.
Xây dựng không gian văn hóa trên môi trường số
Trong bối cảnh mạng xã hội ngày càng tác động mạnh đến cách giới trẻ tiếp nhận thông tin, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng không gian số đã trở thành một phần của môi trường văn hóa.
Do đó, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh không thể chỉ tập trung vào không gian vật lý mà bỏ trống môi trường số. Thay vì chỉ yêu cầu người trẻ tránh xa nội dung xấu, cần tạo ra những sản phẩm văn hóa đủ hấp dẫn để họ chủ động lựa chọn.
Theo ông, cần đẩy mạnh số hóa di sản, phát triển dữ liệu văn hóa mở có kiểm soát, đổi mới cách kể chuyện của bảo tàng, thư viện, nhà hát, báo chí và đội ngũ sáng tạo. Các doanh nghiệp công nghệ, nền tảng số cũng cần có trách nhiệm trong bảo vệ bản quyền, quản lý nội dung và khuyến khích những sản phẩm có giá trị.

Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam được tổ chức với nhiều hoạt động hấp dẫn. Ảnh: Báo Chính phủ
Đối với nguy cơ đơn giản hóa hoặc thương mại hóa di sản, nguyên tắc quan trọng là sáng tạo trên nền tảng hiểu biết và tôn trọng giá trị cốt lõi. Một sản phẩm bắt xu hướng có thể đưa di sản đến với hàng triệu người, nhưng việc cắt xén, bóp méo hoặc dung tục hóa để câu tương tác sẽ làm tổn hại chính giá trị văn hóa.
Theo ông Sơn, xây dựng đời sống văn hóa bền vững không thể là trách nhiệm của riêng ngành văn hóa. Nhà nước cần làm tốt vai trò kiến tạo thông qua thể chế, hạ tầng, dịch vụ văn hóa và bảo vệ di sản; nhà trường hình thành nền tảng thẩm mỹ, nhân cách và năng lực lựa chọn giá trị; doanh nghiệp tham gia đầu tư, sáng tạo và phát triển sản phẩm văn hóa có trách nhiệm; các tổ chức xã hội kết nối nguồn lực; còn cộng đồng là chủ thể lưu giữ, thực hành, sáng tạo và trao truyền văn hóa.
Quan trọng hơn, các chủ thể cần được kết nối thay vì hoạt động riêng rẽ. Trường học có thể sử dụng bảo tàng như một lớp học; doanh nghiệp đồng hành cùng nghệ nhân và cộng đồng; chính quyền mở không gian công cộng cho sáng tạo; báo chí và nền tảng số lan tỏa những câu chuyện văn hóa có giá trị.
Với Ngày Văn hóa Việt Nam, điều ông Sơn kỳ vọng không phải là một ngày có thật nhiều sự kiện, mà là sau ngày ấy, người dân cảm thấy văn hóa gần gũi và cần thiết hơn. Một gia đình hình thành thói quen đọc sách, một học sinh muốn đến bảo tàng, một khu dân cư duy trì hoạt động nghệ thuật cộng đồng, một người trẻ tự hào kể câu chuyện di sản quê hương hay một doanh nghiệp coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững - những thay đổi đó mới tạo nên giá trị lâu dài.
Khi nhu cầu văn hóa trở thành thói quen tự thân, Ngày Văn hóa Việt Nam sẽ không chỉ là một ngày hội, mà có thể trở thành điểm khởi đầu cho một đời sống văn hóa thường xuyên, thiết thực và giàu sức sống.
