PGS.TS Bùi Thị An, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Hà Nội, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng Kỳ vọng tạo đột phá chiến lược ở Đại hội XIV
Nhìn lại chặng đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và góp ý cho Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, tôi cho rằng nhiệm kỳ vừa qua đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển đất nước, đồng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế cần khắc phục. Với tinh thần đó, tôi kỳ vọng Đại hội XIV sẽ tạo ra những đột phá thực chất, đặc biệt trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát huy vai trò đội ngũ trí thức và bảo đảm phát triển bền vững, bao trùm.

PGS.TS Bùi Thị An, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Hà Nội, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng
Nhìn lại kết quả của Đại hội XIII và nhiệm kỳ 2021-2025, tôi cho rằng dấu ấn nổi bật nhất là Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua một giai đoạn đặc biệt khó khăn, đầy biến động, với nhiều thách thức chưa từng có tiền lệ. Đại dịch Covid-19, những xung đột vũ trang và bất ổn địa chính trị trên thế giới, biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, cùng sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và cạnh tranh công nghệ toàn cầu đã tạo ra áp lực rất lớn đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, sự linh hoạt và quyết tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời ban hành nhiều quyết sách quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, giúp đất nước giữ vững ổn định, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
Tôi đặc biệt đánh giá cao tinh thần nhìn thẳng vào sự thật trong quá trình tổng kết nhiệm kỳ Đại hội XIII. Văn kiện đã không né tránh những tồn tại, hạn chế kéo dài nhiều năm, mà thẳng thắn chỉ rõ cả nguyên nhân khách quan lẫn nguyên nhân chủ quan. Điều này thể hiện rõ sự đổi mới tư duy, dám “chẩn đoán đúng bệnh” để từ đó có giải pháp phù hợp. Riêng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Văn kiện đã nêu rõ những hạn chế về cơ chế, chính sách; sự vướng mắc trong quản lý tài chính; chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ trí thức chưa phù hợp; thị trường khoa học và công nghệ chậm phát triển; một số ngành khoa học, công nghệ chiến lược, mũi nhọn phát triển còn chậm; doanh nghiệp chưa thực sự đóng vai trò trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Theo tôi, việc chỉ ra đúng và trúng những điểm nghẽn này là điều kiện tiên quyết để tạo chuyển biến thực chất trong giai đoạn tiếp theo.
Từ góc nhìn của một nữ trí thức nhiều năm làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và quản lý khoa học, tôi cho rằng Đại hội XIII đã đặt nền móng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 được xác định rõ ràng, nhất quán. Triết lý phát triển bền vững, bao trùm, lấy con người và người dân làm trung tâm được nhấn mạnh xuyên suốt, tạo nên định hướng phát triển dài hạn có tính nhân văn sâu sắc. Đặc biệt, việc xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu cho tăng trưởng nhanh và bền vững đã mở ra một không gian phát triển mới, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

PGS.TS Bùi Thị An phát biểu tại Hội nghị đóng góp ý kiến cho Văn kiện Đại hội XIV của Đảng do VUSTA tổ chức
Tuy nhiên, chính từ những kết quả đạt được và những hạn chế đã được chỉ ra trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, tôi cho rằng yêu cầu đặt ra cho Đại hội XIV là phải tạo ra những đột phá mạnh mẽ hơn, thực chất hơn. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV, theo đánh giá của tôi, được chuẩn bị công phu, ngắn gọn, xúc tích, thể hiện rõ định hướng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. So với Văn kiện Đại hội XIII, dự thảo lần này có tính dự báo tốt hơn, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường. Tuy vậy, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đó, Văn kiện Đại hội XIV cần làm rõ hơn nữa các giải pháp mang tính đột phá về cơ chế, chính sách và nguồn lực.
Một trong những kỳ vọng lớn nhất của tôi đối với Đại hội XIV là việc tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh mạnh mẽ hơn vai trò trụ cột của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế tri thức. Văn kiện cần thể hiện rõ yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia đồng bộ, trong đó doanh nghiệp thực sự trở thành trung tâm, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và môi trường thuận lợi, các viện nghiên cứu và trường đại học là lực lượng nghiên cứu nền tảng, còn xã hội là không gian nuôi dưỡng, khuyến khích và lan tỏa sáng tạo. Tôi cho rằng cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý tài chính khoa học - công nghệ theo hướng khoán đến sản phẩm cuối cùng, giảm thủ tục hành chính, mở rộng đặt hàng từ Nhà nước và doanh nghiệp để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, tôi đặt rất nhiều kỳ vọng vào việc Đại hội XIV sẽ dành sự quan tâm đặc biệt cho phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao. Theo tôi, đây chính là “khâu đột phá của mọi đột phá”. Văn kiện cần thể hiện rõ tư duy trọng dụng nhân tài một cách thực chất, chống bình quân chủ nghĩa trong đánh giá, sử dụng trí thức, đồng thời có chính sách dài hạn, ổn định để thu hút và giữ chân các nhà khoa học giỏi, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia quốc tế. Tôi đặc biệt mong muốn Văn kiện nhấn mạnh hơn vai trò của đội ngũ trí thức nữ, những người vừa có năng lực chuyên môn, vừa có trách nhiệm xã hội và tầm nhìn nhân văn trong phát triển bền vững.
Một kỳ vọng quan trọng khác của tôi đối với Đại hội XIV là việc xây dựng cơ chế quốc gia để trí thức thực sự đồng hành cùng đất nước. Tôi cho rằng cần hình thành các mô hình tư vấn chiến lược linh hoạt, phi hành chính hóa, tập hợp trí thức trong và ngoài nước, kể cả những người đã nghỉ chế độ nhưng còn tâm huyết và trí tuệ, tham gia phản biện, hiến kế cho các vấn đề lớn, mang tính chiến lược. Văn kiện nên khẳng định rõ vai trò phản biện xã hội của trí thức như một động lực của đổi mới, không chỉ dừng lại ở việc góp ý mang tính hình thức.
Ngoài khoa học, công nghệ và nhân lực, tôi cũng kỳ vọng Đại hội XIV sẽ làm rõ hơn tư duy và giải pháp về phát triển bền vững, bao trùm và bình đẳng giới. Trong bối cảnh mới, theo tôi, bình đẳng giới không chỉ là vấn đề công bằng xã hội mà còn là một nguồn lực quan trọng cho đổi mới sáng tạo và phát triển quốc gia. Việc tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo cần được coi là một nội dung, một giải pháp cụ thể, gắn với mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.
Từ tổng kết Đại hội XIII đến kỳ vọng ở Đại hội XIV, điều tôi muốn nhấn mạnh là tinh thần đổi mới, dấn thân và khát vọng cống hiến của đội ngũ trí thức khoa học Việt Nam. Tôi tin rằng, nếu Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục phát huy tinh thần nhìn thẳng sự thật, đồng thời tạo ra những đột phá thực chất về thể chế, khoa học - công nghệ và phát huy vai trò đội ngũ trí thức, thì Đại hội XIV sẽ trở thành một dấu mốc quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mới cho đất nước - giai đoạn phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và nhân văn hơn, đúng với tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau” mà Đảng ta luôn hướng tới.











