PGS.TS Trương Ngọc Kiểm: Khởi nghiệp Việt Nam bước vào giai đoạn 'sàng lọc để nâng chất'
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam đang chuyển từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng, với yêu cầu tạo ra những doanh nghiệp có công nghệ lõi, sức tăng trưởng và khả năng vươn ra thị trường quốc tế.

Sau gần một thập kỷ phát triển, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ các chủ thể, từ startup, quỹ đầu tư, tổ chức trung gian đến trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và mạng lưới chuyên gia.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo đặt mục tiêu đến năm 2030, cả nước có ít nhất 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, cùng với yêu cầu mở rộng quy mô, bài toán đặt ra ngày càng rõ hơn là chất lượng doanh nghiệp, khả năng tồn tại, thương mại hóa công nghệ và vươn ra thị trường quốc tế.
Để làm rõ hơn vấn đề này, Doanh nhân & Công lý đã có cuộc phỏng vấn với với PGS.TS Trương Ngọc Kiểm - Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (VNU-TIP), đồng thời là Giám đốc Trung tâm Chuyển giao Tri thức và Hỗ trợ Khởi nghiệp, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Thưa ông, nhìn lại gần một thập kỷ xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Việt Nam hiện đang ở giai đoạn nào: Khởi tạo, tăng tốc hay sàng lọc để bước sang phát triển thực chất?
PGS. TS Trương Ngọc Kiểm: Sau gần một thập kỷ, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ các chủ thể: startup, quỹ đầu tư, tổ chức trung gian, các trường đại học với nền tảng tư duy khởi nghiệp sáng tạo, hệ thống doanh nghiệp, mạng lưới chuyên gia... Đây là những nền móng quan trọng cho sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam.
Chúng ta đã qua giai đoạn khởi tạo hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và cũng đã trải qua một thời kỳ tăng tốc mạnh.
Theo tôi, hiện nay Việt Nam đang bước vào giai đoạn bản lề: Chuyển tiếp từ tăng tốc sang sàng lọc để bước vào giai đoạn phát triển thực chất.
Trong giai đoạn này, thước đo kết quả của hệ sinh thái không chỉ là có bao nhiêu startup, bao nhiêu cuộc thi, bao nhiêu sự kiện hay bao nhiêu chương trình hỗ trợ, mà phải là có bao nhiêu doanh nghiệp khởi nghiệp thực sự tồn tại, tăng trưởng và tạo ra giá trị thực, sở hữu công nghệ lõi, sản phẩm, doanh thu và vươn ra thị trường quốc tế.
Tôi cho rằng đây là lúc phải “sàng lọc để nâng chất”, chuyển từ chạy theo số lượng sang ưu tiên chất lượng, công nghệ lõi, sở hữu trí tuệ và khả năng thương mại hóa.

Không nên chọn một chỉ số duy nhất, mà cần xây dựng một “bộ chỉ số sức khỏe hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”, đo từ khả năng hình thành đến khả năng tạo giá trị của các doanh nghiệp khởi nghiệp.
Nguồn lực cần được tập trung hơn cho những startup có công nghệ, sở hữu trí tuệ, thị trường và khả năng mở rộng; đồng thời phải tạo điều kiện để các trường đại học, viện nghiên cứu trở thành nguồn cung công nghệ và doanh nghiệp lớn trở thành khách hàng, đối tác của startup.
Đặc biệt, phải tăng liên kết Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp - Nhà đầu tư, để biến nghiên cứu và công nghệ thành sản phẩm và doanh nghiệp.
Vai trò của Nhà nước cũng cần chuyển từ “hỗ trợ startup” sang kiến tạo thể chế, nguồn lực và thị trường cho đổi mới sáng tạo.
Nếu làm được điều đó, đến năm 2030 Việt Nam không chỉ sở hữu một hệ sinh thái khởi nghiệp năng động mà còn hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có năng lực tạo giá trị cho nền kinh tế thông qua việc hình thành các doanh nghiệp công nghệ, sở hữu các công nghệ lõi và có thể cạnh tranh tại thị trường quốc tế.

Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trong khi hiện nay cả nước có khoảng 4.000 doanh nghiệp. Theo ông, thách thức lớn nhất nằm ở việc gia tăng số lượng hay nâng cao chất lượng và khả năng tồn tại, phát triển của doanh nghiệp?
PGS. TS Trương Ngọc Kiểm: Theo tôi, thách thức lớn nhất không nằm ở việc đưa số lượng từ 4.000 lên 10.000, mà là làm sao để 10.000 doanh nghiệp đó thực sự sống được, lớn lên và tạo ra giá trị cho nền kinh tế.
Mục tiêu 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp là cần thiết, vì quy mô của hệ sinh thái vẫn phải đủ lớn để hình thành một “nguồn dự trữ” cho đổi mới sáng tạo. Nhưng số lượng chỉ là điều kiện cần, không phải thước đo cuối cùng.
Giờ không phải là lúc trả lời câu hỏi “ươm được bao nhiêu startup” mà phải là “tạo ra được bao nhiêu doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có năng lực cạnh tranh quốc tế”.
Cần quan tâm đến tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp tồn tại và phát triển sau 3 - 5 năm, doanh thu, khả năng huy động vốn tư nhân, sở hữu trí tuệ, năng lực công nghệ lõi, thị trường quốc tế và khả năng trở thành doanh nghiệp quy mô lớn.

Đặc biệt, tôi cho rằng phải tập trung nguồn lực thay vì hỗ trợ dàn trải. Những startup có công nghệ tốt, giải quyết vấn đề thực của doanh nghiệp và xã hội, có thị trường và khả năng tăng trưởng cần được hỗ trợ mạnh hơn.
Một thay đổi rất quan trọng là phải đưa doanh nghiệp và thị trường vào trung tâm của hệ sinh thái.
Bên cạnh việc hỗ trợ cho sự ra đời các startup/spin-off thì Nhà nước phải tạo điều kiện để startup/spin-off có khách hàng, có đơn hàng, có vốn, có đối tác và có cơ hội mở rộng thị trường bằng cách trở thành khách hàng đầu tiên, đặt hàng công nghệ, đặt hàng sản phẩm của các doanh nghiệp này.
Vì vậy, tôi nhìn mục tiêu 10.000 doanh nghiệp như một mục tiêu về quy mô, nhưng mục tiêu cao hơn phải là hình thành được một thế hệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có sức sống, có công nghệ lõi, có năng lực tăng trưởng và cạnh tranh quốc tế. Nói cách khác, phải hình thành 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp với chất lượng ngày càng cao.

Nếu không chỉ đếm số dự án, cuộc thi và doanh nghiệp được thành lập, Việt Nam nên sử dụng những tiêu chí nào để đo lường “sức khỏe” của hệ sinh thái: Tỷ lệ doanh nghiệp tồn tại sau ba năm, doanh thu, bằng sáng chế, lượng vốn tư nhân huy động được hay khả năng vươn ra thị trường quốc tế?
PGS. TS Trương Ngọc Kiểm: Theo tôi, không nên chọn một chỉ số duy nhất, mà cần xây dựng một “bộ chỉ số sức khỏe hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”, đo từ khả năng hình thành đến khả năng tạo giá trị của các doanh nghiệp khởi nghiệp.
Trước hết là tỷ lệ sống và tăng trưởng của doanh nghiệp khởi nghiệp sau 3 và 5 năm; đây là chỉ số quan trọng hơn số lượng startup được thành lập.
Thứ hai là chất lượng tăng trưởng, thể hiện qua doanh thu, tốc độ tăng trưởng, việc làm và năng suất.
Thứ ba là năng lực đổi mới sáng tạo, gồm đầu tư R&D, bằng sáng chế, tài sản trí tuệ, công nghệ lõi và số công nghệ được thương mại hóa.

Thứ tư là khả năng huy động vốn tư nhân, bởi đây là một phép thử khá tốt về mức độ tin tưởng của thị trường đối với startup.
Thứ năm là khả năng tiếp cận thị trường, đặc biệt số khách hàng doanh nghiệp lớn, doanh thu từ thị trường quốc tế và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Ngoài ra, cần đo cả chất lượng liên kết giữa Startup - Viện, Trường - Doanh nghiệp - Nhà đầu tư, bởi một hệ sinh thái khỏe phải tạo ra dòng chảy tri thức, công nghệ và vốn giữa các chủ thể.
Nếu phải chọn ba chỉ số cốt lõi, tôi sẽ chọn: Tỷ lệ sống và tăng trưởng sau 3 - 5 năm; doanh thu và vốn tư nhân huy động được; và tỷ lệ doanh nghiệp có sản phẩm, công nghệ hoặc thị trường quốc tế.
Khi đó, chúng ta sẽ chuyển từ cách đo “hệ sinh thái hoạt động sôi động đến đâu” sang đo “hệ sinh thái tạo ra giá trị thực đến đâu”.

Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam liên tục cải thiện thứ hạng quốc tế, nhưng số startup đủ sức mở rộng hoạt động ra khu vực và thế giới vẫn chưa nhiều. Theo ông, khoảng cách giữa “thứ hạng hệ sinh thái” và “năng lực tạo dựng doanh nghiệp lớn” xuất phát từ đâu?
PGS. TS Trương Ngọc Kiểm: Tôi cho rằng thứ hạng hệ sinh thái và năng lực tạo ra doanh nghiệp lớn là hai thước đo khác nhau.
Một hệ sinh thái có thể rất năng động, có nhiều startup, nhiều vốn, nhiều tổ chức hỗ trợ và được quốc tế đánh giá cao, nhưng điều đó chưa đồng nghĩa với việc đã tạo ra nhiều doanh nghiệp có khả năng scale toàn cầu.
Khoảng cách này trước hết nằm ở khả năng mở rộng quy mô. Nhiều startup Việt Nam mới dừng ở việc giải quyết tốt một thị trường ngách hoặc thị trường trong nước, nhưng chưa có công nghệ đủ khác biệt, mô hình kinh doanh đủ lớn và năng lực quản trị để bước ra thị trường quốc tế.
Thứ hai là nguồn vốn cho giai đoạn tăng trưởng còn hạn chế. Chúng ta có thể giúp startup ra đời, nhưng khi doanh nghiệp cần nguồn vốn lớn để mở rộng sang khu vực và toàn cầu thì hệ sinh thái vốn vẫn chưa đủ sâu.
Thứ ba là năng lực công nghệ và sở hữu trí tuệ chưa tương xứng. Muốn đi ra thế giới, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào lợi thế thị trường hoặc chi phí, mà phải có sản phẩm, công nghệ, thương hiệu và lợi thế cạnh tranh có thể bảo vệ được.
Và cuối cùng, chúng ta cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ khởi nghiệp” sang “xây dựng doanh nghiệp tăng trưởng”. Nhà nước, trường đại học, doanh nghiệp lớn và các quỹ đầu tư phải cùng tạo ra môi trường để startup có công nghệ, có khách hàng, có vốn và có cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Tóm lại, Việt Nam đang khá tốt ở việc tạo ra “nhiều cây mới”, nhưng bài toán khó hơn là nuôi được những “cây lớn” có khả năng vươn ra thị trường quốc tế. Đây sẽ là thước đo quan trọng hơn của hệ sinh thái trong giai đoạn tới.




Cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ khởi nghiệp” sang “xây dựng doanh nghiệp tăng trưởng”. Trong ảnh là một số chương trình đào tạo ngắn hạn do CSK phối hợp tổ chức.
Theo tôi, để thu hẹp khoảng cách này, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ xây dựng một hệ sinh thái “nhiều startup” sang xây dựng một hệ sinh thái “nuôi được doanh nghiệp lớn”. Có 5 nhóm giải pháp:
Chọn và tập trung nguồn lực: Không hỗ trợ dàn trải, mà tập trung cho các startup có công nghệ, thị trường và tiềm năng scale, đặc biệt trong AI, bán dẫn, biotech, vật liệu mới, công nghệ xanh…
Tạo nguồn vốn cho giai đoạn tăng trưởng: Phát triển mạnh quỹ VC trong nước, quỹ đồng đầu tư Nhà nước-tư nhân và các công cụ vốn cho giai đoạn Series A trở đi, để doanh nghiệp không “chết” ở khoảng giữa từ startup đến scale-up.
Lấy thị trường làm trung tâm: Nhà nước và doanh nghiệp lớn cần trở thành khách hàng đầu tiên, đặt hàng và thử nghiệm công nghệ; đồng thời hỗ trợ startup tham gia chuỗi cung ứng và mở thị trường quốc tế.
Nâng năng lực công nghệ và quản trị: Kết nối startup với viện, trường để tiếp cận công nghệ và IP; đồng thời tăng cường năng lực quản trị, tài chính, pháp lý, thương hiệu và quản trị quốc tế cho đội ngũ sáng lập.
Hình thành cơ chế “Go Global”: Không chỉ đưa startup đi hội chợ, mà phải xây dựng mạng lưới đối tác, trung tâm hỗ trợ tại các thị trường mục tiêu, kết nối với tập đoàn quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài.
Điểm cốt lõi là phải thay đổi KPI của chính sách: Không lấy số startup được thành lập hay số chương trình hỗ trợ làm thành công, mà lấy số doanh nghiệp sống được, tăng trưởng nhanh, huy động được vốn tư nhân, thương mại hóa được công nghệ và vươn ra thị trường quốc tế làm thước đo.
Nếu muốn có doanh nghiệp lớn, chính sách cũng phải được thiết kế theo “vòng đời doanh nghiệp”: Từ ý tưởng → startup → scale-up → doanh nghiệp công nghệ lớn → doanh nghiệp toàn cầu, thay vì chỉ tập trung vào đoạn đầu của hành trình.

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực phát triển; Nghị quyết số 68-NQ/TW thúc đẩy kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 86/NQ-CP đặt ra Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Theo ông, cần làm gì để ba định hướng lớn này được kết nối trong một cơ chế thực thi thống nhất, tạo chuyển biến thực chất cho cộng đồng khởi nghiệp?
PGS. TS Trương Ngọc Kiểm: Theo tôi, điểm quan trọng nhất là phải biến ba định hướng lớn này thành một chuỗi chính sách thống nhất, thay vì triển khai theo ba chương trình, ba nguồn lực và ba hệ thống KPI riêng biệt.
Nghị quyết 57 tạo ra nguồn cung tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 68 tạo ra lực lượng doanh nghiệp và nhu cầu thị trường; còn Nghị quyết 86 phải trở thành cơ chế kết nối để biến công nghệ và ý tưởng thành doanh nghiệp, sản phẩm và giá trị kinh tế.
Tôi đề xuất 5 việc.
Thứ nhất, thống nhất đầu mối và cơ chế điều phối, có một chương trình hành động liên thông từ nghiên cứu - công nghệ - startup - doanh nghiệp - thị trường, tránh tình trạng mỗi chính sách hỗ trợ một khâu nhưng không nối được với nhau.
Thứ hai, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp phải được đặt hàng công nghệ, đặt hàng nghiên cứu; startup và viện, trường cùng giải quyết bài toán thực tế của doanh nghiệp.

Thứ ba, thay đổi cách sử dụng nguồn lực Nhà nước: Chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang vốn mồi, đồng đầu tư với khu vực tư nhân, hỗ trợ theo kết quả và theo các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.
Thứ tư, tạo thị trường cho đổi mới sáng tạo, trong đó cơ chế đặt hàng, mua sắm công, thử nghiệm công nghệ và các sandbox phải trở thành công cụ giúp startup có khách hàng đầu tiên và có cơ hội scale.
Thứ năm, xây dựng hệ thống KPI chung, không chỉ đo số đề tài, số startup hay số tiền hỗ trợ, mà đo đến cùng: công nghệ được thương mại hóa, doanh nghiệp tăng trưởng, vốn tư nhân huy động, doanh thu, việc làm, xuất khẩu và doanh nghiệp vươn ra quốc tế.
Nếu làm được như vậy, Nghị quyết 57 tạo ra công nghệ, Nghị quyết 68 tạo ra lực lượng doanh nghiệp, còn Nghị quyết 86 biến hai nguồn lực đó thành các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh.
Nói cách khác, chúng ta cần chuyển từ “ba chính sách cùng thúc đẩy” sang “một chuỗi chính sách cùng tạo ra giá trị”. Đó mới là điều cộng đồng khởi nghiệp cần nhất ở giai đoạn hiện nay.
Trân trọng cảm ơn ông!


