Phát hiện khảo cổ mới mở hướng nghiên cứu quy mô về lịch sử Cao Bằng

Ngày 13/8/2026, các nhà khoa học Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam công bố kết quả khai quật thành Nà Lữ, thành Bản Phủ và di tích cự thạch Bản Thảnh. Dù diện tích khai quật mới chiếm khoảng 0,15% tổng thể các di tích, những dấu tích kiến trúc, lớp địa tầng, hiện vật cùng kết quả xác định niên đại đã cung cấp nhiều bằng chứng khoa học quan trọng, từng bước làm rõ kỹ thuật xây dựng, niên đại và công năng của từng công trình. Những phát hiện bước đầu không chỉ bổ sung nhận thức về lịch sử cố đô Cao Bình mà còn mở ra hướng nghiên cứu quy mô, liên ngành, góp phần nhận diện đầy đủ hơn tầm vóc, giá trị lịch sử, văn hóa Cao Bằng.

Những bằng chứng khoa học mới từ cố đô Cao Bình

Kết quả khai quật tại điểm di sản thành Nà Lữ, thành Bản Phủ và di tích cự thạch Bản Thảnh đem đến nguồn tư liệu mới, góp phần từng bước giải đáp những vấn đề lịch sử còn bỏ ngỏ tại vùng cố đô Cao Bình.

Theo Tiến sĩ Phạm Thanh Sơn, Viện Khảo cổ học, tất cả các hố khai quật được mở tại thành Nà Lữ đều phát lộ dấu tích mới. Tại Cửa Nam và Cửa Đông Nam, đoàn khảo cổ làm rõ một phần cấu trúc cổng thành, kỹ thuật đắp tường thành và phương pháp gia cố nền khu vực ủng thành. Các lớp đất đầm, gạch đầm được tạo dựng xen kẽ cho thấy kỹ thuật xây thành khá công phu và độc đáo. Mẫu thu thập tại Cửa Đông Nam cho kết quả thành Nà Lữ được tạo dựng ít nhất từ thời Lê sơ, khoảng đầu thế kỷ XV.  

Tại khu vực Vườn Đạn - Đại Đàn, hố khai quật rộng trên 100 m² phát lộ hệ thống móng trụ cùng nhiều vật liệu kiến trúc như: ngói xám, gạch ngói đỏ, đá kê và đồ dùng sinh hoạt. Diễn biến địa tầng bước đầu cho thấy nơi đây có 2 lớp kiến trúc, thuộc các giai đoạn cuối Trần - đầu Lê sơ và Lê Trung hưng - Mạc.

Các mẫu được phân tích niên đại Carbon-14 bằng phương pháp AMS tại Mỹ cũng cho kết quả tương ứng với niên đại nhận diện qua địa tầng và hiện vật. Qua đó, góp phần củng cố nhận định về quá trình tồn tại, xây dựng và tu bổ thành Nà Lữ qua nhiều thời kỳ lịch sử.

Một chi tiết đáng chú ý là tại Vườn Đạn xuất lộ nhiều dải ngói, móng trụ nhưng phát hiện rất ít gạch. Đặc điểm khác biệt này đặt ra câu hỏi về kỹ thuật xây dựng và công năng của kiến trúc. Đây có phải công trình hành chính, quân sự, tôn giáo hay một không gian mang tính chất cung đình, cần tiếp tục khai quật, nghiên cứu.

Hiện trường khai quật di tích cự thạch Bản Thảnh, khu vực Cao Bình, xã Hòa An.

Hiện trường khai quật di tích cự thạch Bản Thảnh, khu vực Cao Bình, xã Hòa An.

Kiến trúc thành Bản Phủ, tại hố khai quật ở góc Nam, liên quan đến tường thành Tây Nam, cho thấy thành cơ bản được đắp bằng đất, pha trộn sỏi và cuội suối nhỏ, có nhiều mảnh gốm men Việt Nam và Trung Quốc, niên đại từ thời Lê sơ - Mạc đến Nguyễn (thế kỷ XV - XVII). Trước khi tường thành được đắp, khu vực này vốn là một dạng đồi gò, chủ yếu gồm lớp sét vàng; chưa ghi nhận kiến trúc hoặc phế tích có niên đại sớm hơn. Kết quả khai quật không phát hiện hào thành. Mẫu than, tro trong mặt cắt cho niên đại có độ tin cậy thuộc giai đoạn Lê Trung hưng - Mạc.

Tuy nhiên, diện tích khai quật khảo cổ tại thành Bản Phủ chiếm khoảng 0,15% tổng thể di tích, chưa thể phản ánh đầy đủ quy mô, niên đại và diễn biến tồn tại của tòa thành cổ. Cần mở rộng thăm dò bên trong, bên ngoài và cắt bổ sung tại những đoạn tường Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam đang bị xâm hại mạnh.

Từ kết quả địa tầng, hiện vật và xác định niên đại, các nhà khoa học bước đầu nhận định thành Nà Lữ và thành Bản Phủ từng tồn tại song song trong một số giai đoạn, ít nhất từ thời Lê sơ - Mạc hoặc Lê Trung hưng - Mạc (thế kỷ XV - XVII). Mặc dù xuất hiện một số hiện vật sớm hơn, đến nay chưa đủ căn cứ khẳng định 2 tòa thành được xây dựng từ thời Đường hoặc có trước thế kỷ XI.

Những kết quả khảo cổ mới tiếp tục mở ra nhiều vấn đề khoa học, như: lịch sử vùng đất cố đô Cao Bình đang dần được nhận diện rõ hơn, đồng thời cho thấy tiềm năng khảo cổ còn rất lớn dưới lòng đất - Tiến sĩ Bùi Thanh Sơn khẳng định.

Nhận thức mới về truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa”

Đối với di tích cự thạch Bản Thảnh nằm giữa lòng suối, từ lâu được người dân gọi là “đôi guốc đá”, gắn với truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (Chín chúa tranh vua). Qua khai quật khảo cổ bước đầu được xác định là cầu đá cổ, khởi dựng khoảng thời Lê sơ - Mạc hoặc Lê Trung hưng - Mạc (đầu thế kỷ XV). Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học mới không phủ nhận câu chuyện lưu truyền trong dân gian.

Đồng chí Sầm Việt An, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Báo và Phát thanh, truyền hình Cao Bằng, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho rằng: Truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” có di tích cự thạch “Đôi guốc đá” thuộc về câu chuyện dân gian, còn những thanh đá hiện hữu trên thực địa cần được nhận diện theo kết quả khảo cổ. Đáng chú ý, ngay trong truyền thuyết, “đôi guốc đá” được người dân sử dụng làm cầu qua lại. Vì vậy, việc xác định đây là dấu tích cầu cổ không làm mất đi giá trị huyền thoại mà bổ sung thêm cơ sở để giải thích di sản đầy đủ, thuyết phục hơn.

Từ kết quả nghiên cứu di tích cự thạch Bản Thảnh, yêu cầu nhận diện khách quan cũng được đặt ra đối với những câu chuyện liên quan đến thành Nà Lữ, thành Bản Phủ, cố đô Cao Bình và Thục Phán An Dương Vương. Nhiều địa danh được nhắc đến trong truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa”, lưu truyền qua nhiều thế hệ và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân, cần tiếp tục được đối chiếu với thư tịch cổ, bằng chứng khảo cổ và kết quả nghiên cứu liên ngành.

 Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tô Vũ Ninh: Những phát hiện khảo cổ mới đã mở ra tầm nhìn, luận điểm khoa học mới quan trọng về lịch sử Cao Bằng. Từ kết quả bước đầu, cần xây dựng đề án nghiên cứu lịch sử quy mô toàn tỉnh trong 5 - 10 năm tới, với sự tham gia liên ngành; sớm quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ di tích. Ngành văn hóa tiếp thu ý kiến của các nhà khoa học, quản lý và nghiên cứu lịch sử địa phương, tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh triển khai đề án xứng tầm, bảo tồn và phát huy đồng bộ hệ thống di sản. Qua đó, từng bước làm rõ bề dày lịch sử, văn hóa Cao Bằng; phục vụ giáo dục truyền thống, bồi đắp bản sắc, phát triển du lịch, đưa di sản trở thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội.

Đồng chí Sầm Việt An cho biết thêm: Thành Nà Lữ đã được đề cập trong một số tài liệu cổ, trong khi tư liệu về thành Bản Phủ liên quan đến Thục Phán An Dương Vương còn ít, chưa thống nhất; ngay cả nguồn gốc tên gọi cũng cần tiếp tục làm rõ. Do đó, khi nghiên cứu lịch sử, cần phân định giữa truyền thuyết, giả thuyết và kết luận đã được chứng minh, tránh suy diễn hoặc vội vàng khẳng định những vấn đề chưa đủ căn cứ.

Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương: Nông Hải Pín, Đinh Ngọc Viện đồng tình với những công bố khảo cổ mới; cho rằng kết quả hiện nay chưa thể khép lại việc tìm hiểu lịch sử cố đô Cao Bình. Nhiều khu vực trong nội thành, hệ thống đền, chùa, địa điểm cư trú và dấu tích cổ tại phường Thục Phán, vùng Hòa An (cũ) chưa được khảo sát đồng bộ.

Trước đây, Cao Bằng đã phát hiện nhiều dấu tích thuộc văn hóa Đông Sơn, thời tiền sử và sơ sử. Bởi vậy, kết quả tại 3 địa điểm lần này chỉ phản ánh những lát cắt cụ thể, không đại diện cho toàn bộ chiều dài lịch sử của tỉnh. Những khoảng trống còn lại cần được tiếp tục giải đáp bằng cách kết hợp khảo cổ học với sử học, dân tộc học, nhân học và văn hóa dân gian.

Tiếp cận lịch sử trên tinh thần khoa học liên ngành, không làm giảm giá trị của ký ức cộng đồng, mà giúp mỗi truyền thuyết, địa danh và di tích được đặt đúng vị trí. Khi giá trị vật thể và phi vật thể được nhận diện hài hòa, lịch sử vùng đất cố đô Cao Bình sẽ hiện lên đa chiều hơn, vừa có căn cứ khoa học, vừa giữ được chiều sâu văn hóa được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ.

Tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn tầm vóc lịch sử Cao Bằng

Những phát hiện tại thành Nà Lữ, thành Bản Phủ và di tích cự thạch Bản Thảnh mới là kết quả bước đầu và mở tiềm năng khảo cổ phong phú của vùng đất Cao Bình và lịch sử tỉnh Cao Bằng. Cần tiếp tục xây dựng chương trình nghiên cứu tổng thể, lâu dài, có sự phối hợp giữa nhiều ngành khoa học.

Theo các nhà khảo cổ, thành Nà Lữ là tòa thành có quy mô lớn, tất cả các hố khai quật đều phát lộ dấu tích, trong khi nhiều khu vực bên trong và ngoài thành chưa được khảo sát khai quật. Phạm vi nghiên cứu phải mở rộng tới các lò nung vật liệu kiến trúc, xưởng chế tác đạn đá, hệ thống cầu, đường, bia ký và những di tích liên quan đến không gian thành Nà Lữ.

Đối với thành Bản Phủ, cần thăm dò cả trong và ngoài thành, cắt bổ sung tại các đoạn tường Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam để xác định thời điểm khởi dựng và các giai đoạn tu bổ. Ngoài ra phải mở rộng khảo sát, nghiên cứu sâu hơn về thành Phục Hòa, chùa Đà Quận, đền Quan Triều, đền Kỳ Sầm, chùa Viên Minh, chùa Sùng Phúc, núi Pò Kiền. Trong đó, khu vực núi Pò Kiền được đặc biệt quan tâm bởi khả năng tồn tại dấu tích kiến trúc tôn giáo thời Lý (thế kỷ XI). Nếu được chứng minh bằng khảo cổ học, đây sẽ là nguồn tư liệu quan trọng về lịch sử văn hóa và cương vực quốc gia tại vùng biên giới phía Bắc.

Kết quả khảo cổ mới tại hội thảo ngày 13/8/2026: Kết quả khai quật thành Nà Lữ, thành Bản Phủ và di tích cự thạch Bản Thảnh cung cấp thêm bằng chứng về niên đại, cấu trúc và kỹ thuật xây dựng các công trình cổ. Những lớp địa tầng, dấu tích kiến trúc, hiện vật cùng kết quả phân tích khoa học, khách quan, từng bước làm sáng tỏ lịch sử vùng đất cố đô Cao Bình qua nhiều thời kỳ, nổi bật thời thời kỳ Lê sơ - Mạc, Lê trung hưng, Mạc (thế kỷ XIV - XVII). Đây là cơ sở mở ra tầm nhìn, luận điểm khoa học mới, hướng tới nghiên cứu quy mô, liên ngành về lịch sử, văn hóa Cao Bằng.

Quá trình nghiên cứu cần làm rõ vị trí, công năng, mối liên hệ giữa các kiến trúc, xác định nét đặc sắc của Nà Lữ trong hệ thống thành cổ Việt Nam. Đối với những vấn đề liên quan đến nghiên cứu truyền thuyết Thục Phán An Dương Vương cần xây dựng thành đề tài khoa học cấp quốc gia, có đội ngũ chuyên gia, nguồn lực và phạm vi khảo sát xứng tầm. Quá trình nghiên cứu phải kết hợp khảo cổ học, sử học, dân tộc học, nhân học, văn hóa dân gian và các phương pháp khoa học hiện đại.

Cùng với mở rộng nghiên cứu, tỉnh cần khẩn trương lập quy hoạch khảo cổ học theo Luật Di sản văn hóa năm 2025; điều tra di tích mới, xác định lại vị trí và phạm vi bảo vệ các di tích đã biết. Bản đồ khảo cổ cần được tích hợp vào hệ thống dữ liệu dùng chung để các cơ quan quản lý tra cứu trước khi xây dựng khu dân cư, đường giao thông và các công trình hạ tầng, hạn chế nguy cơ di tích bị san lấp, xâm hại. Nghiên cứu xây dựng đền thờ Thục Phán An Dương Vương, thờ các vị vua nhà Mạc.

Ứng dụng công nghệ LiDAR, quét 3D và hệ thống thông tin địa lý cần được ứng dụng để nhận diện quy mô thành cổ, lưu giữ hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu số để cập nhật trong hồ sơ số hoá di sản quốc gia. Các kết quả nghiên cứu phải được xuất bản thành báo cáo khoa học, sách chuyên khảo; từng bước mời chuyên gia quốc tế phối hợp nghiên cứu, công bố, tạo cơ sở xây dựng hồ sơ đề nghị xếp hạng thành Nà Lữ, cố đô Cao Bình là di tích quốc gia đặc biệt.

    Trường Hà

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/phat-hien-khao-co-moi-mo-huong-nghien-cuu-quy-mo-ve-lich-su-cao-bang-3191390.html