Phát hiện ung thư khi mang thai, người mẹ trì hoãn điều trị rồi đối mặt ca mổ sinh tử
Phát hiện ung thư trực tràng khi mang thai tháng thứ 5, người phụ nữ 38 tuổi quyết định trì hoãn điều trị vì sợ ảnh hưởng đến con. Sau khi em bé chào đời an toàn, khối u của người mẹ tiếp tục tiến triển, xâm lấn rộng và đẩy người mẹ vào một cuộc phẫu thuật đầy thách thức.
Phát hiện ung thư trực tràng khi mang thai tháng thứ 5, người phụ nữ 38 tuổi quyết định trì hoãn điều trị vì sợ ảnh hưởng đến con. Sau khi em bé chào đời an toàn, khối u tiếp tục tiến triển, xâm lấn rộng và đẩy người mẹ vào một cuộc phẫu thuật đầy thách thức.
Người mẹ trì hoãn điều trị vì lo lắng cho con
Chị Nguyễn Thu Hằng (38 tuổi) phát hiện mắc ung thư trực tràng thấp khi đang mang thai người con thứ ba được khoảng 5 tháng. Thời điểm đó, bệnh được xác định ở giai đoạn cT3N1M0, khối u đã xuyên qua thành trực tràng, có hạch vùng nhưng chưa phát hiện di căn xa.
Đứng trước chẩn đoán ung thư khi thai nhi vẫn đang phát triển, người mẹ không khỏi lo lắng. Vì sợ các phương pháp điều trị có thể ảnh hưởng đến em bé, chị quyết định trì hoãn điều trị, chờ con chào đời.
Sau đó, chị sinh con an toàn và tiếp tục ở nhà chăm sóc em bé trong khoảng 4 tháng.
Đến tháng 4/2026, chị đến thăm khám khám tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông. Lúc này, tình trạng bệnh đã thay đổi đáng kể. Khối u nằm rất thấp, chỉ cách mép hậu môn khoảng 2,5 cm và đã tiến triển lên giai đoạn cT4bN2M0, xâm lấn rộng hơn vào các tổ chức xung quanh.
Theo các bác sĩ, đây là một trong những yếu tố khiến việc điều trị trở nên phức tạp hơn rất nhiều.

Trì hoãn điều trị với mong muốn sinh con an toàn, chị Hằng nhập viện tại Phương Đông khi ung thư đã tiến triển sang giai đoạn cT4bN2M0 (Ảnh: BVCC)
Tại Khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, bệnh nhân được hội chẩn và điều trị hóa xạ trị trước mổ, sau đó tiếp tục hóa trị FOLFOX - phác đồ kết hợp oxaliplatin với 5-fluorouracil và leucovorin, được sử dụng trong điều trị ung thư đại trực tràng.
Tuy nhiên, thể trạng người bệnh ngày càng suy yếu. Sau đợt hóa trị thứ ba, chị gặp những cơn đau dữ dội vùng tầng sinh môn, không thể ăn uống và ngủ được, cân nặng chỉ còn khoảng 35 kg.
Trước tình trạng này, PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Ngoại khoa, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông quyết định dừng hóa trị và tiến hành phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng theo đường bụng - tầng sinh môn. Khi mổ, ê-kíp phát hiện khối u đã xâm lấn thành một mảng ở tổ chức trước xương cùng nhưng chưa vào xương.
Trong quá trình phẫu thuật nội soi qua đường bụng, ê-kíp nhận thấy vùng tổn thương nằm rất sâu và dính chặt vào các mô xung quanh. Nếu cố gắng bóc tách từ hướng này, nguy cơ gây tổn thương các cơ quan lân cận là rất lớn.
Ca mổ bên ranh giới của nguy cơ chảy máu ồ ạt
PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn quyết định chuyển hướng tiếp cận từ phía tầng sinh môn. Đây là vùng phẫu thuật đặc biệt nguy hiểm do nằm sát hệ thống tĩnh mạch trước xương cùng. Nếu các tĩnh mạch này bị tổn thương, người bệnh có thể bị chảy máu dữ dội - tình huống khó kiểm soát và đe dọa tính mạng ngay trên bàn mổ.
Lúc này, ê-kíp đứng trước một quyết định khó khăn: nếu dừng lại, nguy cơ tai biến trong cuộc mổ có thể giảm xuống, nhưng phần tổn thương còn lại có thể làm tăng nguy cơ bệnh tái phát; nếu tiếp tục, nguy cơ chảy máu nghiêm trọng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Trước tình huống đó, ê-kíp phẫu thuật kiểm tra lại các mốc giải phẫu, trao đổi kỹ lưỡng và chuẩn bị phương án kiểm soát chảy máu. Sau khi cân nhắc, các bác sĩ quyết định tiếp tục phẫu thuật, từng bước bóc tách mảng tổ chức bị xâm lấn khỏi vùng trước xương cùng, nhằm loại bỏ tổn thương và hạn chế tối đa nguy cơ tai biến.

PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn cùng ê-kíp thực hiện phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng cho bệnh nhân (Ảnh: BVCC)
Ca phẫu thuật diễn ra thành công, người bệnh rời phòng mổ an toàn. Đến ngày thứ năm sau phẫu thuật, bệnh nhân đã có thể ngồi dậy. Những cơn đau dữ dội trước đó không còn xuất hiện, thể trạng và thần sắc của chị cũng cải thiện rõ rệt.
Kết quả giải phẫu bệnh sẽ tiếp tục được phân tích để đánh giá chính xác diện cắt, từ đó xây dựng kế hoạch điều trị tiếp theo cho người bệnh.
Giữ thai không có nghĩa là ngừng mọi điều trị
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn, trong các hướng dẫn quốc tế hiện nay, phụ nữ mắc ung thư khi mang thai không nhất thiết phải lựa chọn giữa điều trị cho mẹ và bảo đảm an toàn cho con. Phẫu thuật vẫn có thể được thực hiện trong thai kỳ khi thật sự cần thiết và có chỉ định phù hợp. Một số hóa chất có thể được cân nhắc sử dụng sau ba tháng đầu thai kỳ. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như nội soi, siêu âm và cộng hưởng từ không tiêm thuốc đối quang từ cũng có thể được áp dụng khi có chỉ định phù hợp.
Một nghiên cứu quốc tế được đăng trên tạp chí The Lancet Oncology năm 2018, tổng hợp dữ liệu của 1.170 phụ nữ được chẩn đoán ung thư trong thai kỳ tại 37 trung tâm y tế thuộc 16 quốc gia, cho thấy ngày càng nhiều phụ nữ mang thai mắc ung thư được điều trị ngay trong thai kỳ, thay vì phải chấm dứt thai kỳ hoặc trì hoãn điều trị đến sau sinh.
Một nghiên cứu khác trên 755 phụ nữ mắc ung thư được hóa trị trong thai kỳ cũng cho thấy khi hóa trị bắt đầu sau tuần thai thứ 12, tỷ lệ dị tật lớn ở trẻ khoảng 3%, tương đương mức dự kiến trong cộng đồng. Điều này không có nghĩa hóa trị hoàn toàn không có nguy cơ, nhưng cũng cho thấy không đúng khi cho rằng cứ hóa trị là trẻ chắc chắn bị dị tật.
PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn khuyến cáo, ung thư trong thai kỳ cần được hội chẩn đa chuyên khoa sớm để cân nhắc phương án điều trị phù hợp với giai đoạn bệnh, tuổi thai và nguyện vọng của gia đình.
"Trong lúc người mẹ chờ con lớn lên từng tuần, khối ung thư có thể không chờ đợi cùng chị. Đôi khi, dũng cảm không phải là chấp nhận từ bỏ mạng sống vì con, mà là bước vào điều trị để giành lấy cơ hội sống cùng con", bác sĩ Tuấn chia sẻ.
