Phát huy hiệu quả chính sách dịch vụ môi trường rừng
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng góp phần bổ sung nguồn thu cho người dân, đồng thời tạo động lực nâng cao trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Để chính sách phát huy hiệu quả, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh luôn chú trọng tuyên truyền, rà soát đối tượng thụ hưởng, bảo đảm chi trả đúng quy định, công khai, minh bạch.
Gia đình bà Ma Thị Bình, thôn Hùng Cường, xã Tân Mỹ hiện có hơn 2 ha rừng được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng. Diện tích này do bố mẹ để lại, mỗi năm mang lại cho gia đình bà hơn 300.000 đồng tiền chi trả. Tuy giá trị không lớn, khoản tiền là nguồn thu nhập bổ sung, đồng thời ghi nhận công sức của người dân trong gìn giữ tài nguyên rừng.

Ngoài nhận tiền dịch vụ môi trường rừng, người dân còn được nhận gạo của Nhà nước để tham gia bảo vệ, giữ rừng.
Từ thực tế này có thể thấy, ý nghĩa của chính sách không chỉ nằm ở khoản tiền người dân được nhận, mà còn ở việc gắn quyền lợi với trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng. Khi hiểu rõ điều kiện thụ hưởng và nghĩa vụ của mình, chủ rừng có thêm động lực chăm sóc, quản lý diện tích được giao, hạn chế các hành vi xâm hại rừng và tham gia bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại địa phương.
Để người dân thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Tuyên Quang lồng ghép tuyên truyền chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng với các hội nghị về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; đồng thời phổ biến tại các cuộc họp thôn, bản. Nội dung tuyên truyền tập trung giúp người dân hiểu rõ đối tượng, điều kiện hưởng chính sách và trách nhiệm của chủ rừng, qua đó nâng cao ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
Việc nâng cao nhận thức có ý nghĩa quan trọng bởi hiệu quả chính sách phụ thuộc không chỉ vào quá trình tổ chức chi trả mà còn vào việc người thụ hưởng thực hiện trách nhiệm bảo vệ diện tích rừng. Khi quyền lợi được bảo đảm và nghĩa vụ được nhận thức đầy đủ, người dân có thêm cơ sở để gắn bó lâu dài với rừng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên tại cơ sở.
Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có trên 642.980 ha rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng trên tổng số hơn 852.789 ha rừng, chiếm 75,4% diện tích rừng toàn tỉnh. Đối tượng thụ hưởng gồm 22 chủ rừng là tổ chức; 53.960 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư được giao rừng; 124/124 UBND cấp xã và một tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng.
Với diện tích chi trả lớn và đối tượng thụ hưởng đa dạng, việc xác định chính xác diện tích rừng, rà soát danh sách và tổ chức chi trả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Quỹ với các cơ quan, đơn vị và chính quyền địa phương. Chi trả đúng đối tượng, đủ số tiền, đúng kỳ hạn không chỉ bảo đảm quyền lợi của chủ rừng mà còn góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong thực hiện chính sách.
Bà Đinh Thị Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Tuyên Quang cho biết, Quỹ tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan rà soát, công khai đối tượng thụ hưởng và thực hiện chi trả đúng kỳ hạn. Cùng với đó, đơn vị đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, nhất là đối với các hộ nhận khoán bảo vệ rừng, nhằm phát huy vai trò của các tổ cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Để hỗ trợ công tác quản lý, Quỹ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ QGIS trong quản lý dữ liệu, xác định diện tích rừng và phục vụ quá trình chi trả. Việc ứng dụng công nghệ góp phần nâng cao độ chính xác của dữ liệu, hạn chế sai sót và tạo thuận lợi cho quá trình rà soát, đối chiếu thông tin về diện tích rừng được hưởng chính sách.
Bên cạnh nhiệm vụ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ còn được giao tiếp nhận, quản lý tiền trồng rừng thay thế do các chủ dự án nộp theo quy định. Nguồn kinh phí này được sử dụng để tái tạo diện tích rừng bị thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng phục vụ các công trình, dự án có ảnh hưởng đến rừng và đất lâm nghiệp, góp phần thực hiện yêu cầu trồng rừng thay thế theo quy định.
Thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đòi hỏi sự đồng bộ từ khâu tuyên truyền, xác định đối tượng thụ hưởng đến tổ chức chi trả và giám sát trách nhiệm của chủ rừng. Khi nguồn kinh phí được phân bổ đúng quy định, thông tin minh bạch và người dân chủ động thực hiện nghĩa vụ, chính sách sẽ tiếp tục phát huy vai trò hỗ trợ sinh kế, khuyến khích cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, góp phần quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh.
