Phát huy hiệu quả công tác phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng và các lực lượng trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia

Bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; trong đó, Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách. Thực tiễn cho thấy, sức mạnh bảo vệ biên giới không chỉ được quyết định bởi khả năng của từng lực lượng, mà còn phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng hiệp đồng giữa các lực lượng. Vì vậy, tăng cường sự phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với các lực lượng vũ trang trong bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia không chỉ là yêu cầu trước mắt, mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài.

Cán bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng phối hợp với lực lượng dân quân tuần tra phòng, chống tội phạm, bảo vệ biên giới. Ảnh: Đơn vị cung cấp

Cán bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng phối hợp với lực lượng dân quân tuần tra phòng, chống tội phạm, bảo vệ biên giới. Ảnh: Đơn vị cung cấp

Biên giới quốc gia hiện nay là không gian đặc biệt, nơi đan xen các hoạt động chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa, xã hội và giao lưu nhân dân. Những vấn đề nảy sinh trên biên giới cũng ngày càng đa dạng. Bên cạnh nguy cơ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, còn có buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm ma túy, mua bán người, xuất nhập cảnh trái phép, tội phạm xuyên quốc gia, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và không gian mạng, cùng những vấn đề an ninh phi truyền thống. Đặc điểm đó làm cho một lực lượng đơn lẻ khó có thể giải quyết toàn diện mọi tình huống. Bộ đội Biên phòng có ưu thế về nắm tình hình địa bàn biên giới, quản lý, kiểm soát biên giới và cửa khẩu, nhưng để xử lý hiệu quả những vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự, quốc phòng, đối ngoại hoặc các loại tội phạm mới, cần có sự gắn kết chặt chẽ với Công an, Hải quan, Kiểm lâm, chính quyền địa phương và lực lượng tại chỗ.

Trọng tâm trước hết là phối hợp nắm tình hình, dự báo và xử trí tình huống từ sớm, từ xa. Trong điều kiện hiện nay, giá trị của thông tin đối với công tác quản lý, bảo vệ biên giới ngày càng lớn. Một dấu hiệu bất thường về di biến động dân cư, hoạt động của các đối tượng nghi vấn, tình hình tội phạm, diễn biến trên tuyến biên giới hoặc những thông tin bất thường trên không gian mạng nếu được phát hiện sớm sẽ tạo điều kiện chủ động xử lý; ngược lại, nếu thông tin bị phân tán, chậm chia sẻ hoặc thiếu thống nhất, nguy cơ bị động, bất ngờ sẽ tăng lên. Vì vậy, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng vũ trang cần xây dựng cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin thường xuyên, chính xác, kịp thời; thống nhất quy trình đánh giá, phân tích, dự báo các vấn đề có thể tác động đến quốc phòng, an ninh biên giới. Công tác này phải chuyển mạnh từ “xử lý vụ việc” sang “quản trị nguy cơ”, từ phản ứng sau khi sự việc xảy ra sang chủ động nhận diện, phòng ngừa và ngăn chặn từ sớm. Công tác phối hợp phải gắn với từng tuyến, từng địa bàn và từng loại tình huống.

Trên tuyến biên giới đất liền, Bộ đội Biên phòng cần phối hợp chặt chẽ với Công an, lực lượng Quân sự địa phương và Dân quân tự vệ trong quản lý địa bàn, giữ gìn an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Ở khu vực biển, đảo và vùng ven biển, sự hiệp đồng giữa Bộ đội Biên phòng với Hải quân nhân dân Việt Nam, Cảnh sát biển Việt Nam, lực lượng Kiểm ngư và các lực lượng chức năng càng có ý nghĩa quan trọng. Mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động và phương thức nghiệp vụ riêng; sự gắn kết chặt chẽ sẽ tạo thành mạng lưới quản lý, bảo vệ biển, đảo liên hoàn, góp phần giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và bảo đảm an ninh, an toàn trên biển.

Tại cửa khẩu, công tác phối hợp phải bảo đảm đồng thời hai yêu cầu: kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ an ninh, chủ quyền và tạo thuận lợi cho các hoạt động hợp pháp trong giao lưu, thương mại, phát triển kinh tế. Đây là bài toán đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Công an và các cơ quan chức năng, tránh chồng chéo và không để khoảng trống. Nếu chức năng, nhiệm vụ không được xác định rõ, phối hợp dễ rơi vào tình trạng “việc ai người ấy làm”, hoặc ngược lại, nhiều lực lượng cùng tham gia nhưng thiếu một đầu mối thống nhất. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện quy chế phối hợp theo hướng cụ thể, thực chất, phù hợp với từng địa bàn và từng nhiệm vụ. Khi có tình huống xảy ra, phải xác định rõ lực lượng chủ trì, lực lượng phối hợp, cơ chế chỉ huy, phương thức trao đổi thông tin và trách nhiệm sau khi xử trí. Trong điều kiện bình thường, phối hợp phải được duy trì thường xuyên; khi có tình huống phức tạp, phải chuyển nhanh sang trạng thái phối hợp cao hơn, bảo đảm thống nhất hành động nhưng không làm mất tính chủ động của từng lực lượng.

Đặc biệt, công tác phối hợp không thể chỉ được thể hiện trên văn bản mà phải được kiểm nghiệm qua huấn luyện, diễn tập, tuần tra liên hợp, trao đổi nghiệp vụ và xử lý các tình huống thực tế. Một quy chế phối hợp chỉ có giá trị khi cán bộ, chiến sĩ của các lực lượng biết rõ phải làm gì, phối hợp với ai và hành động như thế nào khi tình huống xảy ra. Công tác hiệp đồng phải bắt đầu từ việc xây dựng con người và củng cố niềm tin giữa các lực lượng. Sự gắn kết hiệu quả trước hết là sự gắn kết giữa con người với con người. Vì vậy, cần tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của phối hợp; khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín, coi nhiệm vụ của lực lượng mình là trung tâm. Mỗi cán bộ phải hiểu rằng, bảo vệ biên giới là nhiệm vụ chung; thành công của lực lượng này là điều kiện để lực lượng khác hoàn thành nhiệm vụ và ngược lại.

Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các lực lượng vũ trang phải gắn chặt với nhân dân, hướng tới xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Đây là chiều sâu của công tác phối hợp trong xây dựng nền biên phòng toàn dân. Bộ đội Biên phòng và các lực lượng vũ trang dù được tổ chức chính quy, trang bị hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của nhân dân trên địa bàn. Người dân là chủ thể trên địa bàn, là người trực tiếp phát hiện nhiều dấu hiệu bất thường và có khả năng cung cấp những thông tin mà lực lượng chức năng khó tiếp cận. Vì vậy, phối hợp giữa các lực lượng phải đồng thời là phối hợp với cấp ủy, chính quyền và nhân dân. Cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; vận động nhân dân tham gia bảo vệ đường biên, mốc giới; xây dựng địa bàn an toàn; phát hiện, tố giác tội phạm; hỗ trợ lực lượng chức năng khi cần thiết. Khi “thế trận lòng dân” được củng cố, biên giới không chỉ có lực lượng chuyên trách bảo vệ, mà còn có hàng triệu “tai mắt” của nhân dân cùng tham gia giữ gìn chủ quyền, an ninh.

Bảo vệ biên giới quốc gia là nhiệm vụ lâu dài, không thể chỉ dựa vào sức mạnh của một lực lượng. Sự nghiệp ấy đòi hỏi sức mạnh tổng hợp của cả đất nước, trong đó, Bộ đội Biên phòng giữ vai trò nòng cốt, chuyên trách và các lực lượng vũ trang khác là những thành tố quan trọng tạo nên thế trận liên hoàn, rộng khắp. Phối hợp càng chặt chẽ, chỉ huy càng thống nhất, thông tin càng thông suốt, hành động càng đồng bộ thì sức mạnh bảo vệ biên giới càng được nhân lên. Đó cũng chính là con đường để xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển; chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong mọi tình huống, góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với thế và lực ngày càng vững chắc.

Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, Bộ Quốc phòng

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/phat-huy-hieu-qua-cong-tac-phoi-hop-giua-bo-doi-bien-phong-va-cac-luc-luong-trong-quan-ly-bao-ve-chu-quyen-lanh-tho-an-ninh-bien-gioi-quoc-gia-post506820.html