Phát huy nguồn lực dữ liệu trong đổi mới mô hình tăng trưởng
Sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng liên quan đã khiến dữ liệu trở thành một nguồn lực chiến lược. Khi nước ta chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, dữ liệu giữ vai trò trung tâm, kết nối công nghệ, tri thức và quản trị.

Cán bộ hướng dẫn người dân làm thủ tục hành chính tại Điểm phục vụ hành chính công phường Đống Đa (Thành phố Hà Nội). (Ảnh: THẾ ĐẠI)
Khai thác tiềm năng
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thọ Đạt, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế quốc dân (nay là Đại học Kinh tế Quốc dân), trước đây, tăng trưởng kinh tế thường dựa trên các nguồn lực truyền thống là vốn và lao động nhưng trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu hiện nay, dữ liệu trở thành nền tảng của mô hình phát triển kinh tế.
Việc tích hợp dữ liệu vào phân tích tăng trưởng cho thấy dữ liệu không chỉ bổ sung cho vốn và lao động, mà còn là động lực then chốt nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp và hiệu quả phân bổ. Với Việt Nam, trong tiến trình chuyển đổi số và đổi mới mô hình tăng trưởng, dữ liệu vừa là động lực tăng trưởng, vừa là công cụ hỗ trợ chuyển đổi sang mô hình phát triển xanh, góp phần đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
Thực tế thời gian qua trong hoạt động của các ngành, lĩnh vực, địa phương, việc phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt trong phát triển nền tảng dữ liệu và công nghệ số phục vụ sản xuất, kinh doanh cũng từng bước được tích cực triển khai.
Điển hình như Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành chiến lược dữ liệu ngành đến năm 2030, định hướng đến 2035 cùng khung kiến trúc số và khung kiến trúc dữ liệu phù hợp dữ liệu quốc gia. Đến nay, Bộ đã hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành 21 cơ sở dữ liệu chuyên ngành cùng bốn hệ thống thông tin dùng chung; hoàn thành kết nối, đồng bộ cả 12 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành theo yêu cầu của Trung ương và Chính phủ, tạo điều kiện hình thành hệ sinh thái dữ liệu “đúng-đủ-sạch-sống-thống nhất-dùng chung”.
Đặc biệt, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia đã bước đầu được vận hành với hơn 18.500 sản phẩm, 919 lô hàng, 547 nông hộ, 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia. Đây là công cụ quan trọng để minh bạch hóa chuỗi giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hà Nội Cù Ngọc Trang, thành phố xác định dữ liệu là tài sản chiến lược và là nền tảng của chính quyền số, kinh tế số, xã hội số. Vì vậy, Hà Nội đã chuyển từ số hóa quy trình, hệ thống sang cấu trúc lại quy trình, mở dữ liệu, kết nối dữ liệu, tái sử dụng dữ liệu và phục vụ điều hành dựa trên dữ liệu. Các kết quả về dịch vụ công trực tuyến, cấu trúc lại thủ tục hành chính, cấp kết quả điện tử, sử dụng lại dữ liệu số hóa, dữ liệu đất đai, hồ sơ sức khỏe điện tử, dữ liệu giáo dục, tài sản công, quản lý đầu tư… tác động rõ nét đến quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Đến nay, cả 17 sở, ngành của Hà Nội đã tham gia mở dữ liệu với tất cả 93 bộ dữ liệu, đạt 100%. Một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được hình thành và khai thác, gồm: Hơn 543 nghìn tài sản công; hơn 27 nghìn dự án đầu tư; hơn 129 nghìn hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức đồng bộ lên cơ sở dữ liệu quốc gia; khoảng 24 đồ án quy hoạch phân khu được chuẩn hóa dạng GIS; dữ liệu giáo dục được khai thác qua hơn 100 bảng điều khiển đến 126 xã, phường; xây dựng cơ sở dữ liệu cho khoảng 3,24 triệu thửa đất và chuẩn hóa hơn 9,2 triệu hồ sơ sức khỏe điện tử…
Kiến tạo thị trường
Thực tiễn quá trình triển khai vẫn còn những khó khăn, bất cập trong phát huy nguồn lực dữ liệu. Theo Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, dữ liệu hiện nay vẫn còn phân tán, chưa đồng bộ hoàn toàn giữa các ngành; một số cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành chưa mở chia sẻ đầy đủ; việc khai thác dữ liệu để thay thế hoàn toàn hồ sơ giấy, tạo giá trị kinh tế-xã hội và phát triển kinh tế dữ liệu còn hạn chế. Đáng chú ý, nhân lực chuyên sâu về dữ liệu, AI, an toàn thông tin, quản trị hệ thống, thiết kế kiến trúc số và thương mại hóa công nghệ còn thiếu; năng lực số ở cấp cơ sở chưa đồng đều.
Theo nghiên cứu của các chuyên gia, giữa “tích lũy dữ liệu” và “tạo giá trị từ dữ liệu” vẫn còn khoảng cách đáng kể. Cùng với đó, mức độ hiệu quả trong khai thác dữ liệu phụ thuộc vào chất lượng thể chế bởi thiếu cơ chế điều tiết phù hợp dữ liệu có thể dẫn đến tình trạng tập trung thị trường và độc quyền, tạo lợi thế vượt trội cho một số đơn vị, doanh nghiệp. Vì vậy, thể chế dữ liệu, bao gồm quyền sở hữu, quyền truy cập, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm cạnh tranh cần được quy định rõ bảo đảm phân bổ và sử dụng hiệu quả trong nền kinh tế.
Ông Đạt và các cộng sự cho rằng, để phát huy nguồn lực dữ liệu, cần chuyển từ “xây dựng hạ tầng dữ liệu” sang “khai thác dữ liệu hiệu quả”. Việt Nam đã đạt những bước tiến quan trọng về hạ tầng và khung pháp lý, song thách thức lớn nhất vẫn là biến dữ liệu thành giá trị kinh tế thông qua nâng cao năng suất và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Điều này đòi hỏi cần làm rõ quyền sở hữu, quyền truy cập, quyền khai thác dữ liệu, đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ và liên thông giữa khu vực công và khu vực tư; xây dựng một hệ sinh thái thể chế, thị trường và năng lực khai thác đủ mạnh để dữ liệu vận hành như một yếu tố sản xuất.
Đáng chú ý, Nhà nước cần đóng vai trò “kiến tạo thị trường” thông qua việc cung cấp dữ liệu công khai, xây dựng chuẩn kỹ thuật và tạo dựng niềm tin cho giao dịch. Khi thị trường dữ liệu vận hành hiệu quả, nguồn dữ liệu sẽ được phân bổ đến khu vực có năng suất biên cao nhất, nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế.












