Phát huy sức mạnh tri thức nhân văn trong chuyển đổi số
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tiếp cận, sáng tạo và sử dụng tri thức. Trong bối cảnh đó, khoa học xã hội, nhân văn và giáo dục cần chủ động thích ứng, phát huy vai trò kiến tạo tri thức, bồi đắp giá trị văn hóa và phát triển năng lực con người, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số thực chất, bền vững.
Đây cũng là vấn đề đáng chú ý được đặt ra tại Hội thảo khoa học quốc tế "Khoa học xã hội, nhân văn và giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số" do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức mới đây tại Hà Nội.
Bảo đảm chiều sâu tri thức trong chuyển đổi số
Công nghệ số đang mở rộng khả năng lưu trữ, xử lý và kết nối thông tin ở quy mô lớn. Những nguồn tư liệu tại các cơ quan lưu trữ, thư viện, bảo tàng ngày càng được số hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và khai thác.
Cùng với đó, AI có thể hỗ trợ nhận dạng văn bản, phân tích dữ liệu, phục dựng không gian lịch sử và phát triển những hình thức truyền tải tri thức sinh động. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thông tin được mở rộng không đồng nghĩa với việc chất lượng tri thức tự động được nâng cao.
Vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định đây là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để thúc đẩy đất nước phát triển, trong đó thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi.

Lễ tân ảo AI - ứng dụng trí tuệ nhân tạo kết hợp camera nhận diện và cảm biến chuyển động có khả năng tương tác, trả lời trực tiếp các câu hỏi của khách tham quan tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: Thanh Tùng
Những định hướng này đặt ra yêu cầu nhìn nhận chuyển đổi số không chỉ ở việc đầu tư hạ tầng, trang bị công cụ hoặc số hóa tài nguyên, mà còn ở khả năng khai thác dữ liệu để sáng tạo tri thức, nâng cao chất lượng nghiên cứu và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với khoa học xã hội và nhân văn, yêu cầu này càng trở nên quan trọng bởi đối tượng nghiên cứu không chỉ giới hạn ở những dữ kiện có thể mã hóa, phân loại và lưu trữ, mà còn bao hàm những giá trị lịch sử, văn hóa và xã hội được hình thành, bồi đắp và biến đổi qua thời gian.
Đáng chú ý, đằng sau những nguồn tư liệu, di sản và thực hành văn hóa là các lớp ý nghĩa gắn với bối cảnh lịch sử, đời sống cộng đồng và những cách diễn giải khác nhau. Vì vậy, quá trình số hóa cần dựa trên nền tảng nghiên cứu, khảo chứng và diễn giải khoa học, bảo đảm tính xác thực và chiều sâu tri thức.
Theo PGS-TS Nguyễn Đức Sơn (Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), công nghệ có thể mở rộng quy mô tiếp cận và khả năng tái hiện di sản, nhưng chính sử học, văn học, ngôn ngữ học, triết học và khoa học giáo dục mới cung cấp chiều sâu tri thức, phương pháp kiểm chứng thông tin, nền tảng giá trị và năng lực trao truyền di sản giữa các thế hệ.
Trong quá trình ứng dụng công nghệ, việc bảo đảm chiều sâu tri thức và tính xác thực của thông tin vì thế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong thực tiễn, công nghệ phục dựng 3 chiều có thể tạo ra những trải nghiệm di sản sinh động, nhưng giá trị khoa học của sản phẩm vẫn phụ thuộc vào độ tin cậy của tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
Đặc biệt, khả năng tạo ra những thông tin, hình ảnh có sức thuyết phục của AI tạo sinh càng đặt ra yêu cầu kiểm chứng, minh bạch nguồn gốc, phân biệt rõ chứng cứ xác thực với giả thuyết phục dựng và nội dung sáng tạo. Những sai lệch trong quá trình này có nguy cơ ảnh hưởng đến nhận thức về lịch sử và bản sắc cộng đồng.
Đề cập đến yêu cầu bảo đảm tính xác thực của tri thức trong môi trường số, PGS-TS Hà Văn Minh (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) nhấn mạnh: "Một tư liệu chỉ trở thành chứng cứ xác thực khi nhà nghiên cứu xác định được xuất xứ, bối cảnh, giới hạn và quan hệ của nó với những nguồn thông tin khác".

Người dân tìm hiểu thông tin các di tích qua nền tảng công nghệ số “Hành trình du lịch di sản Hà Nội”. Ảnh: Khánh Hòa
Từ yêu cầu đó, chuyển đổi số trong các lĩnh vực nhân văn cần hướng tới xây dựng những hệ thống dữ liệu có khả năng kiểm chứng, liên thông và sử dụng lâu dài. Các nguồn dữ liệu phải được xác định rõ xuất xứ, bối cảnh, tình trạng bản quyền và mức độ xác tín, tạo nền tảng phục vụ nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo.
Ở bình diện rộng hơn, quá trình này còn liên quan đến quyền kiểm soát và diễn giải tri thức. Khi các nền tảng công nghệ và thuật toán ngày càng tác động đến việc lựa chọn, sắp xếp và phổ biến thông tin, phát triển hạ tầng dữ liệu văn hóa phải gắn với bảo vệ tính xác thực của tri thức, quyền lợi cộng đồng và khả năng chủ động giới thiệu, diễn giải các giá trị văn hóa Việt Nam.
Phát triển năng lực con người, nâng cao giá trị tri thức
Trên nền tảng dữ liệu có chất lượng, năng lực con người giữ vai trò quyết định trong việc khai thác, sử dụng và chuyển hóa thông tin thành những giá trị tri thức thiết thực. Sự phát triển của AI với khả năng tìm kiếm, tổng hợp và tạo ra nội dung ở quy mô lớn cũng đặt ra yêu cầu đổi mới hoạt động nghiên cứu và giáo dục, hướng tới phát triển tư duy độc lập, năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ.
Trong môi trường số, khi thông tin ngày càng phong phú và dễ dàng tiếp cận, việc học tập không chỉ chú trọng tiếp nhận, ghi nhớ kiến thức mà còn đòi hỏi khả năng kiểm chứng, đánh giá độ tin cậy và hình thành nhận định độc lập.
Theo đó, năng lực sử dụng công nghệ cần gắn với tư duy phản biện, phương pháp nghiên cứu và ý thức trách nhiệm trong khai thác, phổ biến thông tin.
PGS-TS Nguyễn Đức Sơn cho rằng, "năng lực số không thể chỉ được đo bằng khả năng sử dụng thành thạo công cụ". Năng lực này còn bao gồm khả năng xác định nguồn gốc thông tin, đánh giá chứng cứ, nhận diện giới hạn của thuật toán, phân biệt dữ kiện với giả thuyết và chịu trách nhiệm về những diễn giải của mình.
Vì thế, hiệu quả chuyển đổi số giáo dục cần được đánh giá qua những thay đổi thực chất trong hoạt động nhận thức của người học, thay vì chỉ dựa vào số lượng thiết bị, phần mềm hoặc nền tảng trực tuyến. Công nghệ có thể mở rộng môi trường học tập, nhưng hiệu quả giáo dục vẫn phụ thuộc vào phương pháp tổ chức hoạt động tìm hiểu, khám phá và vận dụng tri thức.

Màn giao lưu đặc biệt giữa học sinh trường THCS Giảng Võ, Hà Nội với những robot AI hình người “AIMOGA” (8/2026). Ảnh: Thanh Tùng
Trong giáo dục lịch sử và di sản, những không gian số, bảo tàng trực tuyến hoặc ứng dụng AI có thể trở thành môi trường để học sinh trực tiếp khảo sát, thu thập, phân tích và kiểm chứng tư liệu, chủ động tìm hiểu mối liên hệ giữa hiện vật, sự kiện lịch sử và đời sống cộng đồng. Qua đó, người học không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn hiểu được quá trình hình thành tri thức, phát triển năng lực nghiên cứu và xây dựng những lập luận độc lập.
Đổi mới giáo dục cũng đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực có năng lực liên ngành, đáp ứng sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa khoa học xã hội, nhân văn và công nghệ.
Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu cần có hiểu biết về dữ liệu, thuật toán và công cụ số, trong khi những người phát triển công nghệ cần được trang bị kiến thức lịch sử, văn hóa, đạo đức và nhận thức về tác động xã hội của sản phẩm. Sự kết hợp này tạo điều kiện để các lĩnh vực chuyên môn hỗ trợ, kiểm chứng lẫn nhau, bảo đảm chất lượng học thuật và trách nhiệm xã hội trong ứng dụng công nghệ.
Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa ngày càng gắn với công nghệ số, tri thức nhân văn còn góp phần chuyển các giá trị lịch sử, văn hóa thành nguồn lực sáng tạo. Việc khai thác di sản trong điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi điện tử và du lịch đòi hỏi sự hiểu biết về nguồn gốc, bối cảnh và ý nghĩa văn hóa, tránh tình trạng sử dụng biểu tượng truyền thống đơn thuần để trang trí, thương mại hóa, làm nghèo đi chiều sâu hoặc sai lệch giá trị di sản.
Bởi vậy, phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn với nghiên cứu, giáo dục, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi cộng đồng chủ thể. Đây cũng là định hướng phù hợp với Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt trong mối quan hệ với phát huy nguồn lực văn hóa, phát triển con người.
Trong tiến trình thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, khoa học xã hội, nhân văn và giáo dục cần chủ động tham gia xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển phương pháp nghiên cứu, đổi mới đào tạo và xác lập những chuẩn mực sử dụng công nghệ có trách nhiệm. Đây là những đóng góp quan trọng để chuyển đổi số không chỉ tạo ra những thay đổi về phương tiện, công cụ mà còn nâng cao chất lượng tri thức và năng lực sáng tạo của xã hội.
Suy cho cùng, phát huy sức mạnh tri thức nhân văn chính là đặt những tiến bộ công nghệ trên nền tảng khoa học, văn hóa và đạo đức, hướng tới nâng cao năng lực con người, gìn giữ các giá trị chung và đóng góp thiết thực vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Theo PGS-TS Nguyễn Đức Sơn, công nghệ có thể mở rộng quy mô tiếp cận và khả năng tái hiện di sản, nhưng chính sử học, văn học, ngôn ngữ học, triết học và khoa học giáo dục mới cung cấp chiều sâu tri thức, phương pháp kiểm chứng thông tin, nền tảng giá trị và năng lực trao truyền di sản giữa các thế hệ.


