Phát huy vai trò địa phương trong công tác đối ngoại
Cụ thể hóa đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV xác định, đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trên nền tảng ba trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân.

Thành phố Huế tập trung phát huy vai trò đối ngoại nhân dân trong lan tỏa hình ảnh, giá trị văn hóa, di sản Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Trong ảnh: Du khách quốc tế tham quan, nghe giới thiệu về Đại nội Huế. (Ảnh: QUỲNH MAI)
Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước “triển khai Nghị quyết không phải chỉ là của các cơ quan đối ngoại mà của tất cả các cấp ủy, cơ quan, tổ chức, địa phương”, nhiều cách làm sáng tạo đã được ghi nhận từ thực tiễn.
Lan tỏa hình ảnh, giá trị Việt Nam
Tại hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, nhấn mạnh năm luận điểm lớn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển lớn về tư duy lãnh đạo của Đảng.
Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nếu đường lối đối ngoại của Đại hội XIV là sự kết tinh của tầm nhìn, ý chí chính trị của Đảng thì các nội dung của Nghị quyết số 06-NQ/TW là sự cụ thể hóa cần thiết và quan trọng để hiện thực hóa tầm nhìn, ý chí chính trị đó. Việc triển khai Nghị quyết không phải chỉ là của các cơ quan đối ngoại mà của tất cả các cấp ủy, cơ quan, tổ chức, địa phương. Trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 vừa qua, nhiều kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo đã khẳng định đóng góp tích cực của các địa phương trong lĩnh vực này.
Theo đồng chí Lê Trí Thanh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế, trong bối cảnh các quốc gia ngày càng gắn với sức mạnh mềm, đối ngoại nhân dân không chỉ là cầu nối hữu nghị, mà cần trở thành một phương thức quan trọng để mở rộng hợp tác, huy động nguồn lực phục vụ phát triển. Với lợi thế riêng có, thành phố Huế đã xác định văn hóa là sức mạnh mềm; di sản là nguồn lực và lợi thế cạnh tranh khác biệt.
Khai thác lợi thế của vùng đất hội tụ những giá trị tiêu biểu của văn hóa Việt Nam, với nhiều di sản đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh, thông qua ngoại giao văn hóa, ngoại giao di sản, thành phố Huế chủ động mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, các địa phương kết nghĩa, các thành phố di sản trên thế giới; qua đó tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm quản lý, công nghệ bảo tồn và các mô hình phát triển bền vững phục vụ xây dựng đô thị di sản. Thực hiện chủ trương chuyển đối ngoại nhân dân từ “giao lưu hữu nghị” sang “hợp tác tạo giá trị”, thành phố Huế đã duy trì và mở rộng quan hệ với các đối tác quốc tế trên các lĩnh vực bảo tồn di sản, giáo dục, y tế, môi trường, chuyển đổi xanh, khoa học-công nghệ và phát triển đô thị bền vững.
Thông qua hoạt động đối ngoại nhân dân, thành phố đã từng bước kết nối với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, các viện nghiên cứu, trường đại học và đối tác phát triển. Người dân Huế với sự thân thiện, văn minh, hiếu khách là những đại sứ văn hóa, góp phần lan tỏa hình ảnh Huế và Việt Nam ra thế giới, khẳng định sức mạnh đối ngoại nhân dân bắt nguồn từ chính cộng đồng. Cùng với ứng dụng chuyển đổi số mở ra không gian mới thông qua việc số hóa di sản, các sản phẩm truyền thông đa ngôn ngữ và các nền tảng quảng bá trực tuyến, đưa giá trị văn hóa Huế đến gần hơn với cộng đồng quốc tế.
Từ thực tiễn Huế, theo Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, hiệu quả của đối ngoại nhân dân trong giai đoạn mới không chỉ được đo bằng số lượng hoạt động giao lưu hay văn bản hợp tác được ký, mà quan trọng hơn là những kết quả cụ thể được tạo ra, hiệu quả các chương trình, dự án được triển khai, nguồn lực được huy động, tri thức được chia sẻ và lợi ích thiết thực mang lại cho người dân. Đây cũng là định hướng xuyên suốt hướng đến xây dựng Huế trở thành đô thị di sản đặc trưng của Việt Nam, một trung tâm lớn về văn hóa, du lịch của khu vực.
Củng cố vững chắc "vành đai an ninh-phát triển"
Một trong năm định hướng lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, đó là phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại ngăn ngừa các nguy cơ khủng hoảng từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát; kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước. Trước hết là củng cố vững chắc “vành đai an ninh-phát triển”.
Tỉnh Lạng Sơn có đường biên giới dài gần 232km, giữ vị trí cửa ngõ quan trọng trên các tuyến giao thương giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước ASEAN; đặc điểm đó tạo nhiều cơ hội phát triển, đồng thời đặt ra yêu cầu phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa hợp tác và bảo vệ lợi ích quốc gia; giữa mở cửa giao lưu với giữ vững an ninh, trật tự; giữa phát triển kinh tế biên mậu với quản lý chặt chẽ biên giới. Phó Bí thư Tỉnh ủy Vũ Hoàng Anh cho biết, tỉnh luôn xác định công tác đối ngoại là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Trong đó, đối ngoại Đảng giữ vai trò định hướng, tạo nền tảng tin cậy chính trị; ngoại giao nhà nước cụ thể hóa các chủ trương, thỏa thuận thành chương trình hợp tác; đối ngoại nhân dân củng cố tình cảm hữu nghị, sự hiểu biết và đồng thuận giữa nhân dân hai bên biên giới.
Theo đồng chí Vũ Hoàng Anh, sự lãnh đạo thống nhất của cấp ủy giúp các hoạt động đối ngoại của tỉnh được triển khai đúng định hướng, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Các chương trình hợp tác được xem xét đồng thời trên các phương diện chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Một dấu ấn nổi bật là việc duy trì chương trình gặp gỡ đầu xuân giữa Bí thư Tỉnh ủy các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng với Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) và cơ chế Hội nghị Ủy ban công tác liên hợp. Đây là các cơ chế hợp tác cấp địa phương có ý nghĩa quan trọng trong tổng thể quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, tạo điều kiện để lãnh đạo cấp ủy hai bên trao đổi trực tiếp, củng cố tin cậy chính trị, thống nhất định hướng hợp tác và kịp thời chỉ đạo xử lý các vấn đề phát sinh.
Lạng Sơn đã duy trì các mô hình giao lưu, kết nghĩa giữa địa phương, đơn vị và cụm dân cư hai bên biên giới, giúp người dân hai bên hiểu rõ hơn về chủ trương, chính sách, truyền thống văn hóa và đời sống của nhau; củng cố tình cảm láng giềng, nâng cao ý thức chấp hành các hiệp định, quy chế quản lý biên giới, phối hợp bảo vệ đường biên, mốc giới và giữ gìn an ninh, trật tự tại khu vực cư trú. Hiệu quả từ gắn chặt đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân với ngoại giao nhà nước, ngoại giao kinh tế theo hướng phục vụ phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; tập trung quảng bá tiềm năng, lợi thế, môi trường đầu tư của địa phương, góp phần quan trọng kết nối đối tác, mở rộng thị trường; phối hợp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hóa qua biên giới.
Kinh nghiệm từ Lạng Sơn cho thấy, đối với địa bàn biên giới, để tạo sự ổn định lâu dài, cùng với các cơ chế quản lý hành chính và hoạt động của lực lượng chức năng, sự đồng thuận, tin tưởng và tự giác tham gia của Nhân dân là yếu tố có tính nền tảng. Người dân được thụ hưởng kết quả của hợp tác quốc tế sẽ tích cực hơn trong bảo vệ biên giới, duy trì quan hệ hữu nghị và tham gia các hoạt động đối ngoại tại cơ sở; góp phần thiết thực xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển, củng cố vững chắc “vành đai an ninh-phát triển” của đất nước.
