Phát triển công nghiệp hóa chất gắn với nâng cao năng lực tự chủ và sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại

Trong bối cảnh cạnh tranh thương mại ngày càng phức tạp và yêu cầu phát triển bền vững đặt ra ngày càng cao, ngành công nghiệp hóa chất cần đồng thời nâng cao năng lực tự chủ, hoàn thiện chuỗi giá trị và chủ động sử dụng công cụ phòng vệ thương mại để bảo vệ hiệu quả ngành sản xuất trong nước, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Sáng 6/8/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) phối hợp với Cục Hóa chất và Tạp chí Công Thương tổ chức Hội nghị bàn tròn "Sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại trong phát triển ngành công nghiệp và công nghiệp hóa chất bền vững"

Sáng 6/8/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) phối hợp với Cục Hóa chất và Tạp chí Công Thương tổ chức Hội nghị bàn tròn "Sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại trong phát triển ngành công nghiệp và công nghiệp hóa chất bền vững"

Hoàn thiện thể chế, định hình chiến lược phát triển ngành hóa chất trong giai đoạn mới

Phát biểu tham luận tại Hội nghị bàn tròn “Sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại trong phát triển ngành công nghiệp và công nghiệp hóa chất bền vững” diễn ra sáng 6/8, ông Nguyễn Văn Kiên - Chuyên viên Phòng Phát triển công nghiệp hóa chất, Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) cho rằng, công nghiệp hóa chất là ngành công nghiệp nền tảng, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho rất nhiều ngành kinh tế. Vai trò này đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng và tiếp tục được cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ngành công nghiệp hóa chất đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thay đổi quan trọng về thể chế và định hướng chiến lược.

Luật Hóa chất năm 2025 đã dành riêng một chương quy định về phát triển công nghiệp hóa chất. Đây là điểm mới căn bản so với Luật Hóa chất năm 2007, tạo lập khuôn khổ pháp lý toàn diện hơn cho việc định hướng phát triển ngành trong giai đoạn tới.

Bên cạnh đó, Quyết định số 726/QĐ-TTg năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 đã xác định rõ các mục tiêu, định hướng và giải pháp phát triển ngành. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của nền kinh tế, Cục Hóa chất đang tham mưu đưa nội dung sửa đổi chiến lược này vào chương trình công tác của Chính phủ theo hướng xây dựng tầm nhìn dài hạn hơn cùng các mục tiêu phát triển mạnh mẽ hơn. Dự kiến, chiến lược sửa đổi sẽ được ban hành trong năm 2027.

Năm định hướng lớn để nâng cao năng lực tự chủ của ngành công nghiệp hóa chất

Theo ông Nguyễn Văn Kiên, trên cơ sở các chủ trương của Đảng và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, ngành công nghiệp hóa chất đang định hình một số định hướng phát triển mới nhằm nâng cao năng lực tự chủ, tăng cường khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Những định hướng này không chỉ tạo nền tảng cho sự phát triển dài hạn của ngành hóa chất mà còn gắn chặt với mục tiêu bảo vệ ngành sản xuất trong nước thông qua việc kết hợp hài hòa giữa chính sách phát triển công nghiệp và các công cụ phòng vệ thương mại.

Trước hết, ngành sẽ ưu tiên các phân ngành hóa chất nền tảng mang tính chất chiến lược: Tập trung nguồn lực vào các ngành trọng điểm như hóa chất cơ bản, hóa dầu, hóa dược, phân bón, cao su kỹ thuật và các sản phẩm tinh khiết phục vụ cho công nghệ cao, điện tử và bán dẫn. Đây là những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực tự chủ về nguyên liệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mục tiêu là tránh đầu tư dàn trải, hình thành các chuỗi giá trị và nâng cao năng lực tự chủ về nguyên liệu cho Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Kiên - Chuyên viên Phòng Phát triển công nghiệp hóa chất, Cục Hóa chất, Bộ Công Thương trình bày tham luận về "Định hướng chiến lược phát triển công nghiệp hóa chất và những vấn đề đặt ra trong bảo vệ ngành sản xuất trong nước"

Ông Nguyễn Văn Kiên - Chuyên viên Phòng Phát triển công nghiệp hóa chất, Cục Hóa chất, Bộ Công Thương trình bày tham luận về "Định hướng chiến lược phát triển công nghiệp hóa chất và những vấn đề đặt ra trong bảo vệ ngành sản xuất trong nước"

Thứ hai, đẩy mạnh đổi mới công nghệ và chuyển đổi xanh, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình phát triển bền vững mà còn là điều kiện để hàng hóa hóa chất Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu lớn. Việc này không chỉ giúp giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng mà còn là điều kiện thiết yếu để tiếp cận các thị trường quốc tế và các nguồn vốn xanh,.

Thứ ba, hình thành chuỗi cung ứng sản xuất hóa chất trong nước, ưu tiên khuyến khích thành lập các tổ hợp hóa chất quy mô lớn và các khu công nghiệp chuyên ngành hóa chất tập trung, tạo điều kiện cho việc phát triển cái mô hình kinh tế tuần hoàn. Ở Việt Nam hiện nay cũng đã hình thành lên một số tổ hợp hóa chất quy mô lớn như khu Phú Mỹ, khu công nghiệp hóa dầu gắn với hệ thống cảm biến logistics chuyên dụng. Việc hình thành lên chuỗi cung ứng trong nước này sẽ góp phần nâng cao tỉ lệ nội địa hóa, giảm chi phí trung gian, tận dụng sản phẩm của các nhà sản xuất, nâng cao khả năng chống chịu trước biến động của thị trường thế giới.

Thứ tư, ưu tiên phát triển hệ sinh thái khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong ngành hóa chất. Khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư cho nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ, hình thành cơ chế hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu, các trường đại học và các doanh nghiệp để nâng cao vai trò của đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chuyên gia, kỹ sư trong ngành, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất.

Thứ năm, xây dựng chính sách theo hướng kết hợp, hài hòa giữa chính sách phát triển công nghiệp và các cái chính thương mại phù hợp để bảo vệ cho ngành sản xuất trong nước.

Ba thách thức lớn đặt ra

Bên cạnh những cơ hội phát triển, ngành hóa chất Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức.

Theo đó, thách thức lớn nhất hiện nay là áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng từ hàng hóa nhập khẩu. Đối với nhiều quốc gia có lợi thế về nguồn nguyên liệu dầu mỏ và hóa dầu, khi công suất sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu thụ trong nước, lượng hàng dư thừa sẽ được xuất khẩu sang các thị trường khác với mức giá thấp, trong đó có Việt Nam. Điều này tạo sức ép rất lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước, đặc biệt là những ngành có chi phí đầu tư ban đầu lớn, thời gian hoàn vốn dài và khó điều chỉnh quy mô sản xuất trong thời gian ngắn như hóa chất cơ bản, hóa dầu, nhựa nguyên sinh và các sản phẩm cao su.

Thách thức thứ hai là năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp hóa chất trong nước còn hạn chế. Qua rà soát, không ít doanh nghiệp vẫn có quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ chưa đồng bộ, chi phí sản xuất và chi phí nguyên liệu ở mức cao. Trong khi đó, năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo còn yếu khiến doanh nghiệp chưa thích ứng kịp với những biến động nhanh của thị trường quốc tế cũng như các yêu cầu ngày càng cao của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Một thách thức khác ngày càng nổi lên là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại diễn biến phức tạp hơn. Các hành vi bán phá giá, trợ cấp, nhập khẩu tăng đột biến, chuyển tải bất hợp pháp, gian lận xuất xứ hoặc thay đổi không đáng kể sản phẩm để né tránh các biện pháp phòng vệ thương mại tiếp tục xuất hiện dưới nhiều hình thức, làm suy giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời.

Chủ động theo dõi các nhóm sản phẩm có nguy cơ để kịp thời áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Từ thực tiễn theo dõi thị trường, Cục Hóa chất đã bước đầu rà soát và đề xuất một số nhóm sản phẩm cần được nghiên cứu bảo vệ bằng các biện pháp phòng vệ thương mại như: phân bón (Urê, DAP, MAP); lốp cao su; một số loại nhựa thông dụng như PP, PVC; các hóa chất cơ bản như axit sulfuric (H₂SO₄), axit clohydric (HCl), axit photphoric (H₃PO₄), axit nitric (HNO₃), amoni nitrat (NH₄NO₃); cùng với pin lưu trữ.

"Việc đưa các sản phẩm này vào danh sách theo dõi không đồng nghĩa đề xuất áp dụng ngay các biện pháp phòng vệ thương mại. Tuy nhiên, đối với từng sản phẩm cần tiến hành nghiên cứu, rà soát, đánh giá thường xuyên về tốc độ hàng nhập khẩu, diễn biến thị trường, thị phần, công suất tồn kho, lợi nhuận và các yếu tố khác để đưa ra các giải pháp phòng ngừa phù hợp", đại diện Cục Hóa chất lưu ý.

Phòng vệ thương mại tạo “khoảng thời gian” để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh

Theo ông Nguyễn Văn Kiên, phòng vệ thương mại ngày càng khẳng định vai trò là một công cụ quan trọng nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng cho doanh nghiệp. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, ngành hóa chất là một trong những ngành đã sử dụng hiệu quả các công cụ phòng vệ thương mại.

Điển hình là việc áp dụng biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm phân bón DAP và MAP nhập khẩu vào Việt Nam.

Theo đó, tháng 8/2017, Bộ Công Thương đã quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với các sản phẩm phân bón DAP và MAP nhập khẩu. Đến tháng 3/2018, biện pháp tự vệ chính thức được áp dụng với mức thuế là 1.128.531 đồng/tấn và tiếp tục được gia hạn vào năm 2020. Sau quá trình theo dõi, đánh giá diễn biến thị trường và tình hình sản xuất trong nước, đến tháng 9/2022, Bộ Công Thương quyết định không gia hạn biện pháp tự vệ đối với các sản phẩm này.

Việc áp dụng biện pháp tự vệ đối với phân bón DAP và MAP nhập khẩu trong giai đoạn 2017-2022 đã góp phần giúp các doanh nghiệp trong nước ổn định sản xuất, đến nay các nhà máy sản xuất DAP, MAP trong nước cơ bản vận hành ổn định và có lợi nhuận.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng áp dụng thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm Sorbitol nhập khẩu từ Ấn Độ, Indonesia và Trung Quốc nhằm tạo điều kiện phát triển sản xuất Sorbitol trong nước. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tiến hành điều tra đối với một số sản phẩm như bột ngọt, màng nhựa PP, PET và các sản phẩm polymer khác.

Từ các vụ việc thực tiễn, ông Nguyễn Văn Kiên nhấn mạnh, phòng vệ thương mại có thể hỗ trợ ngành sản xuất trong nước nhưng chỉ trong một giai đoạn nhất định, thông thường tối đa khoảng 5 năm. Vì vậy, doanh nghiệp phải sử dụng khoảng thời gian đó để đầu tư công nghệ, nghiên cứu đổi mới công nghệ, tìm các giải pháp để giảm chi phí, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm để có thể cạnh tranh công bằng với các sản phẩm nhập khẩu.

Rủi ro thương mại không còn chỉ là bán phá giá, trợ cấp

Ở chiều ngược lại, ông Nguyễn Văn Kiên cho biết hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng đang phải đối mặt với ngày càng nhiều vụ điều tra phòng vệ thương mại tại các thị trường nước ngoài.

Điển hình, Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm lốp xe chở người và lốp xe tải nhẹ nhập khẩu từ Việt Nam từ năm 2020. Kết quả cuối cùng, phía Hoa Kỳ chấm dứt điều tra chống bán phá giá nhưng vẫn áp dụng thuế chống trợ cấp đối với một số doanh nghiệp. Theo đại diện Cục Hóa chất, vụ việc này cho thấy doanh nghiệp cần hợp tác đầy đủ, chuẩn bị đầy đủ các số liệu minh bạch, phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước khi đối mặt với các vụ điều tra của nước ngoài.

Một ví dụ khác là vụ việc Liên minh châu Âu (EU) khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với nhựa PET có xuất xứ từ Việt Nam trong năm 2025. Quá trình điều tra kết thúc trong năm 2026 và không dẫn đến việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm này. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Kiên, vụ việc cũng đặt ra yêu cầu các doanh nghiệp phải duy trì hệ thống dữ liệu đầy đủ về giá thành, chi phí sản xuất, nguyên liệu đầu vào cũng như chứng minh rõ nguồn gốc xuất xứ hàng hóa trong trường hợp bị điều tra.

Đáng chú ý, phạm vi các rủi ro thương mại mà doanh nghiệp phải đối mặt đang ngày càng mở rộng. Nếu trước đây các vụ việc chủ yếu tập trung vào chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc tự vệ thì hiện nay, các yếu tố như dư thừa công suất, lao động, môi trường và chuỗi cung ứng cũng đang trở thành căn cứ để nhiều quốc gia tiến hành các cuộc điều tra thương mại.

Đại diện Cục Hóa chất cho biết, trong năm 2026, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã lần lượt khởi xướng các cuộc điều tra liên quan đến tình trạng dư thừa công suất đối với 16 quốc gia, vùng lãnh thổ và điều tra về lao động cưỡng bức đối với 60 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam. Đối với những nội dung liên quan đến ngành hóa chất, Cục Hóa chất đã chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan của Việt Nam tham gia đầy đủ các bước trong quá trình điều tra của phía Hoa Kỳ.

Ông Nguyễn Văn Kiên nhận định, những diễn biến này cho thấy doanh nghiệp hóa chất không chỉ cần kiểm soát tốt giá xuất khẩu hay chứng minh xuất xứ hàng hóa mà còn phải bảo đảm tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguồn nguyên liệu đầu vào, điều kiện sử dụng lao động đến việc đáp ứng các yêu cầu về môi trường và khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây sẽ là những yêu cầu ngày càng phổ biến đối với hàng hóa xuất khẩu trong thời gian tới.

Đại diện Cục Hóa chất nhận định, nếu trước đây các vụ việc chủ yếu tập trung vào chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc tự vệ thì hiện nay, các yếu tố như dư thừa công suất, lao động, môi trường và chuỗi cung ứng cũng đang trở thành căn cứ để nhiều quốc gia tiến hành các cuộc điều tra thương mại

Đại diện Cục Hóa chất nhận định, nếu trước đây các vụ việc chủ yếu tập trung vào chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc tự vệ thì hiện nay, các yếu tố như dư thừa công suất, lao động, môi trường và chuỗi cung ứng cũng đang trở thành căn cứ để nhiều quốc gia tiến hành các cuộc điều tra thương mại

Nâng cao năng lực doanh nghiệp để sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại

Từ quá trình theo dõi các vụ việc trong và ngoài nước, đại diện Cục Hóa chất cho rằng có ba bài học quan trọng đối với cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ nhất, cần chủ động theo dõi diễn biến nhập khẩu, xuất khẩu cũng như các biện pháp phòng vệ thương mại tại các thị trường trọng điểm để kịp thời nhận diện nguy cơ và có giải pháp ứng phó.

Thứ hai, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống kế toán, thống kê và lưu trữ đầy đủ dữ liệu về hoạt động sản xuất, kinh doanh để sẵn sàng cung cấp theo yêu cầu của cơ quan điều tra trong và ngoài nước khi phát sinh vụ việc.

Thứ ba, việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại phải gắn với quá trình tái cơ cấu ngành và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Không nên coi phòng vệ thương mại là biện pháp bảo hộ lâu dài mà cần xem đây là công cụ hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và phát triển bền vững.

Ông Nguyễn Văn Kiên cũng đề xuất tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển ngành công nghiệp hóa chất theo hướng đồng bộ, ổn định, minh bạch, phù hợp với các cam kết quốc tế, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu phát triển công nghiệp, bảo vệ môi trường, an toàn hóa chất và duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế theo dõi thường xuyên đối với các sản phẩm hóa chất có nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Theo đại diện Cục Hóa chất, việc lựa chọn sản phẩm theo dõi cần dựa trên các tiêu chí như tốc độ tăng nhập khẩu, mức giảm giá nhập khẩu, thị phần hàng nhập khẩu, công suất, lượng tồn kho của ngành sản xuất trong nước, khả năng thay thế hàng nhập khẩu cũng như vai trò của sản phẩm đối với an ninh nguyên liệu.

Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp cần chủ động thu thập dữ liệu, đánh giá nguy cơ, chuẩn bị sẵn hồ sơ để có thể kịp thời đề xuất áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại khi xuất hiện dấu hiệu gây thiệt hại đối với sản xuất trong nước.

Một trong những giải pháp được ông Nguyễn Văn Kiên đặc biệt nhấn mạnh là tiếp tục nâng cao hiệu quả Hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại. Theo ông, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại, Cục Hóa chất đã phối hợp chặt chẽ với Cục Phòng vệ thương mại xây dựng bộ dữ liệu cảnh báo sớm đối với nhiều nhóm sản phẩm như hóa chất cơ bản, săm lốp cao su và một số sản phẩm điện hóa. Các dữ liệu này đã được bàn giao cho Cục Phòng vệ thương mại để tiếp tục hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm quốc gia, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp chủ động ứng phó với các vụ việc điều tra từ nước ngoài.

Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống kế toán, thống kê và quản trị dữ liệu; lưu trữ đầy đủ các thông tin về chi phí sản xuất, giá thành, công suất, tồn kho, thị phần, việc làm và lợi nhuận để sẵn sàng phục vụ quá trình điều tra khi cần thiết

Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống kế toán, thống kê và quản trị dữ liệu; lưu trữ đầy đủ các thông tin về chi phí sản xuất, giá thành, công suất, tồn kho, thị phần, việc làm và lợi nhuận để sẵn sàng phục vụ quá trình điều tra khi cần thiết

Quan trọng hơn hết, để các biện pháp phòng vệ thương mại thực sự phát huy hiệu quả, doanh nghiệp phải trở thành chủ thể trung tâm trong quá trình phòng ngừa và ứng phó với các vụ việc thương mại quốc tế.

"Các doanh nghiệp hóa chất là nhóm thường xuyên chịu áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu giá rẻ, đồng thời cũng là đối tượng có nguy cơ cao bị điều tra phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống kế toán, thống kê và quản trị dữ liệu; lưu trữ đầy đủ các thông tin về chi phí sản xuất, giá thành, công suất, tồn kho, thị phần, việc làm và lợi nhuận để sẵn sàng phục vụ quá trình điều tra khi cần thiết. Ngoài ra, các hiệp hội cần phát huy thêm vai trò phản ánh tiếng nói của doanh nghiệp khi ngành hàng gặp bất lợi trong đối mặt với cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu", đại diện Cục Hóa chất lưu ý.

Mặt khác, doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần chủ động phòng ngừa nguy cơ bị điều tra từ nước ngoài thông qua việc thường xuyên theo dõi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tại từng thị trường, tránh phụ thuộc quá mức vào một thị trường hoặc để kim ngạch xuất khẩu tăng đột biến trong thời gian ngắn mà không có sự chuẩn bị. Đồng thời, tuân thủ nghiêm các quy định về xuất xứ hàng hóa, không thực hiện hành vi chuyển tải bất hợp pháp hoặc sử dụng chứng từ không phản ánh đúng thực tế sản xuất của doanh nghiệp.

Việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại cần được gắn chặt với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các biện pháp này có thể tạo ra khoảng thời gian để doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động sản xuất, song không thể thay thế cho việc đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường.

Phòng vệ thương mại là công cụ hỗ trợ, nâng cao năng lực nội tại mới là yếu tố quyết định

Đại diện Cục Hóa chất cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc bảo vệ ngành sản xuất trong nước cần được triển khai bằng một hệ thống giải pháp tổng thể, trong đó nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp là yếu tố quyết định, còn phòng vệ thương mại là công cụ hỗ trợ quan trọng nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Đối với ngành công nghiệp hóa chất, yêu cầu đặt ra hiện nay là vừa chủ động theo dõi, phát hiện và xử lý các hành vi cạnh tranh không công bằng trên thị trường trong nước, vừa nâng cao năng lực dự báo và khả năng ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng phức tạp tại các thị trường xuất khẩu. Việc sử dụng công cụ phòng vệ thương mại phải bảo đảm khách quan, minh bạch, tuân thủ đúng quy định của pháp luật và dựa trên đầy đủ chứng cứ, đồng thời hài hòa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích chung của nền kinh tế.

“Mục tiêu cuối cùng không phải là hạn chế thương mại mà là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển bền vững”, ông Nguyễn Văn Kiên nhấn mạnh.

Đại diện Cục Hóa chất bày tỏ tin tưởng rằng, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng, các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp, ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, an toàn, bền vững, nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, qua đó đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trịnh Đạt - Thy Thảo

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-cong-nghiep-hoa-chat-gan-voi-nang-cao-nang-luc-tu-chu-va-su-dung-hieu-qua-cong-cu-phong-ve-thuong-mai-539767.htm