Phát triển công nghiệp vật liệu để nâng cao năng lực tự chủ chiến lược

Chiều 24/9, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng các cơ quan liên quan tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW ngày 8/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Một thông điệp nổi bật được đặt ra tại hội thảo: Việt Nam cần chuyển mạnh từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu, coi đây là một trong những nền tảng nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của đất nước.

Đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, phát biểu tại Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.

Đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, phát biểu tại Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.

Hội thảo do đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương và đồng chí Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì.

Từ lợi thế tài nguyên đến năng lực làm chủ công nghệ

Phát biểu tại hội thảo, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Phan Xuân Thủy nhấn mạnh, công nghiệp vật liệu giữ vị trí đặc biệt trong nền kinh tế. Đây là đầu vào của sản xuất công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng, năng lượng, điện tử, bán dẫn, quốc phòng, an ninh và nhiều ngành công nghệ cao.

Vì vậy, phát triển công nghiệp vật liệu không chỉ là câu chuyện riêng của một ngành. Đó còn là vấn đề liên quan trực tiếp đến mô hình tăng trưởng, cơ cấu công nghiệp, năng lực tự chủ của nền kinh tế và vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Những năm qua, công nghiệp vật liệu Việt Nam đã từng bước phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu về nhiều loại vật tư, nguyên liệu; đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo việc làm và xuất khẩu. Một số vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế đã được nghiên cứu, sản xuất.

Tuy nhiên, những hạn chế cũng khá rõ. Sản xuất vật liệu còn nặng về khai thác, thâm dụng tài nguyên, tiêu hao nhiều năng lượng, giá trị gia tăng thấp; năng lực chế biến sâu và làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế. Nhiều loại vật liệu chất lượng cao, vật liệu công nghệ cao và vật liệu đặc chủng vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Đây cũng là những vấn đề được Bộ Chính trị chỉ rõ trong Kết luận số 83-KL/TW.

Điểm đáng chú ý của Kết luận số 83-KL/TW là xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, có yếu tố quyết định năng lực tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng làm chủ các công nghệ lõi. Định hướng xuyên suốt là chuyển từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu; từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ tham gia chuỗi cung ứng sang từng bước làm chủ những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đây là sự chuyển hướng quan trọng. Bởi một quốc gia có tài nguyên nhưng chủ yếu xuất nguyên liệu thô, sau đó phải nhập trở lại vật liệu và sản phẩm công nghệ cao thì lợi thế tài nguyên chưa thể chuyển hóa đầy đủ thành năng lực tự chủ.

Bộ Chính trị yêu cầu phát triển đồng bộ công nghiệp vật liệu theo ba nhóm: vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai. Đến năm 2030, trọng tâm ưu tiên gồm vật liệu bán dẫn, vật liệu đất hiếm, vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu mới, vật liệu đặc chủng và lưỡng dụng phục vụ công nghệ cao, quốc phòng, an ninh, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số.

Lộ trình cũng được xác định khá cụ thể. Trong năm 2026, xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; năm 2027 hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành vật liệu; đến năm 2028 phấn đấu hình thành tối thiểu từ 3 đến 5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia. Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin và phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược đạt 50%.

Không để nghiên cứu dừng lại trong phòng thí nghiệm

Quang cảnh hội thảo

Quang cảnh hội thảo

Từ góc độ khoa học, PGS.TS Trần Quốc Tiến, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, phát triển vật liệu tiên tiến cần được đặt trong một hệ thống liên kết chặt chẽ giữa vật liệu - công nghệ - linh kiện, thiết bị - sản phẩm - thị trường.

Điều đó có nghĩa, nghiên cứu vật liệu không thể dừng ở đề tài, công trình hay sản phẩm thử nghiệm. Các chương trình nghiên cứu phải hướng tới mục tiêu công nghệ cụ thể, có lộ trình và địa chỉ ứng dụng, gắn với nhu cầu thực tế của sản xuất.

Hiện Viện Khoa học Vật liệu tập trung vào bốn hướng gồm vật liệu và công nghệ bán dẫn; vật liệu đất hiếm và khoáng sản chiến lược; vật liệu năng lượng mới và hydro; vật liệu tiên tiến, lớp phủ chức năng và vật liệu phục vụ các ngành kinh tế - xã hội.

Đối với lĩnh vực bán dẫn, Viện định hướng nghiên cứu các vật liệu như GaN, SiC, vật liệu hai chiều và vật liệu chức năng phục vụ điện tử, quang điện tử; đồng thời đề xuất dự án phòng thí nghiệm chế tạo và đánh giá gương phản xạ UV đạt tiêu chuẩn công nghiệp, dự kiến phối hợp với nhà máy sản xuất chip 32 nm của Viettel.

Với đất hiếm, vấn đề không chỉ nằm ở việc Việt Nam có tài nguyên hay không, mà quan trọng hơn là có làm chủ được chuỗi giá trị từ tài nguyên, chế biến sâu đến vật liệu và sản phẩm hay không. Viện Khoa học Vật liệu định hướng nghiên cứu công nghệ chiết, tách và phân chia các nguyên tố đất hiếm có độ sạch cao từ nguồn sa khoáng ven biển Việt Nam; phát triển vật liệu nam châm NdFeB, SmCo và các hợp kim đặc chủng.

Định hướng này phù hợp với yêu cầu của Bộ Chính trị về quản lý khoáng sản chiến lược theo toàn bộ chuỗi giá trị, hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô và lấy chế biến sâu làm trọng tâm.

Ở góc độ đào tạo, GS.TS Nguyễn Đức Hòa, Phó Hiệu trưởng Trường Vật liệu, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng chính sách phát triển công nghiệp vật liệu cần được thiết kế theo một chuỗi liên kết từ đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo đến sản xuất công nghiệp và thị trường.

Ông đề nghị thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp, phát triển thị trường cho sản phẩm khoa học và công nghệ trong nước; từng bước chuyển từ hỗ trợ riêng lẻ từng đề tài sang đầu tư theo chương trình sản phẩm và chuỗi giá trị, đi từ nghiên cứu nền tảng, phát triển công nghệ, sản xuất thử đến thương mại hóa.

Đây cũng là điểm then chốt. Nghiên cứu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi tri thức trở thành công nghệ; công nghệ trở thành sản phẩm; sản phẩm tìm được thị trường và doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuất ở quy mô công nghiệp.

Kết luận số 83-KL/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu của công nghiệp vật liệu. Mô hình được đặt ra khá rõ: “Nhà nước kiến tạo - doanh nghiệp trung tâm - viện, trường nền tảng - địa phương là không gian thực thi”.

Các tham luận tại hội thảo cũng đề cập yêu cầu phát triển công nghiệp vật liệu theo hướng xanh, tuần hoàn, hiệu quả và bền vững; quản lý chặt tài nguyên, khoáng sản chiến lược; hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô; nâng cao năng lực tái chế, giảm tiêu hao năng lượng, phát thải và ô nhiễm môi trường.

Phát triển công nghiệp vật liệu vì thế không đơn thuần là sản xuất thêm thép, vật liệu xây dựng hay khai thác thêm khoáng sản. Đích đến cao hơn là nâng giá trị của tài nguyên bằng khoa học và công nghệ, biến tiềm năng thành sản phẩm, biến kết quả nghiên cứu thành năng lực sản xuất và từng bước giảm sự phụ thuộc vào nguồn vật liệu, công nghệ từ bên ngoài.

Đó cũng chính là ý nghĩa của yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược: không phải khép mình trong một nền kinh tế tự cung, tự cấp, mà chủ động làm chủ những vật liệu, công nghệ và mắt xích có ý nghĩa thiết yếu đối với sự phát triển của đất nước.

Xuân Huy

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/phat-trien-cong-nghiep-vat-lieu-de-nang-cao-nang-luc-tu-chu-chien-luoc-a35161.html