Phát triển điện hạt nhân, không đánh đổi an toàn lấy tiến độ

Điện hạt nhân có thể cung cấp nguồn điện công suất lớn, ổn định và phát thải thấp, nhưng Việt Nam cần đồng thời nâng năng lực pháp quy, thẩm định an toàn và chuẩn bị nhân lực khi tái khởi động chương trình điện hạt nhân.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định. (Ảnh: Bùi Toàn)

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định. (Ảnh: Bùi Toàn)

Yêu cầu này được các nhà quản lý, chuyên gia đặt ra tại Hội thảo khoa học “Phát triển điện hạt nhân vì tăng trưởng xanh và an ninh năng lượng quốc gia”, tổ chức ngày 21/9 tại Khánh Hòa.

Việt Nam đang đứng trước bài toán kép: nhu cầu điện cho sản xuất, hạ tầng số, đô thị, giao thông và đời sống tiếp tục tăng, trong khi phải giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân được đặt trở lại trong cơ cấu nguồn điện dài hạn, với vai trò cung cấp nguồn điện công suất lớn, ổn định và phát thải carbon thấp.

Quốc hội đã quyết nghị tiếp tục thực hiện chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cũng đưa điện hạt nhân trở lại cơ cấu nguồn điện dài hạn.

Nhưng theo các chuyên gia, quyết định quay lại điện hạt nhân mới là điểm khởi đầu. Phía sau một nhà máy là hệ thống pháp luật, cơ quan pháp quy, đội ngũ chuyên gia, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực thẩm định, ứng phó sự cố và một quá trình quản lý kéo dài suốt vòng đời dự án.

Không đánh đổi an toàn lấy tiến đ

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng biến đổi khí hậu, yêu cầu giảm phát thải và những biến động địa chính trị đang buộc các quốc gia giải đồng thời ba bài toán: an ninh năng lượng, tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch năng lượng sạch.

Với Việt Nam, việc tái khởi động chương trình điện hạt nhân, trong đó có các dự án Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, không chỉ nhằm bổ sung nguồn điện mà còn có thể thúc đẩy nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ và công nghiệp như cơ khí, vật liệu, tự động hóa và công nghệ số.

Tuy nhiên, điện hạt nhân có yêu cầu công nghệ cao, vốn đầu tư lớn và trách nhiệm kéo dài trong toàn bộ vòng đời nhà máy. Vì vậy, theo Thứ trưởng, nguyên tắc xuyên suốt phải là “không đánh đổi an toàn lấy tiến độ, hay lợi ích kinh tế trước mắt”.

Công nghệ được lựa chọn phải tiên tiến, đã qua kiểm chứng. Hiệu quả của dự án cũng không thể chỉ tính bằng chi phí xây dựng nhà máy, mà phải xem xét toàn bộ vòng đời, gồm đầu tư, vận hành, quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng, xử lý chất thải phóng xạ đến tháo dỡ công trình.

Đây cũng là lý do năng lực của cơ quan pháp quy hạt nhân trở thành một trong những vấn đề được đặt ra khi chương trình điện hạt nhân được tái khởi động.

Mục tiêu làm chủ 70% khối lượng thẩm định nhà máy điện hạt nhân

Tiến sĩ Trần Quang Tuấn, Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân (VARANS), cho rằng chương trình điện hạt nhân đặt ra yêu cầu phải nâng năng lực pháp quy để bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân.

Theo định hướng được ông Tuấn trình bày, đến năm 2035, cùng với việc triển khai an toàn hai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và ít nhất một dự án lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR), năng lực của cơ quan pháp quy cần được nâng lên đáng kể.

Một mục tiêu được đặt ra là VARANS có thể làm chủ 70% khối lượng thẩm định nhà máy điện hạt nhân và 100% đối với lò phản ứng nghiên cứu mới.

Để đạt mục tiêu này, theo ông Tuấn, năng lực pháp quy không chỉ nằm ở số lượng cán bộ. Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; xây dựng hạ tầng dữ liệu; đào tạo nhân lực chuyên sâu và mở rộng hợp tác quốc tế.

Hệ thống pháp quy cũng được định hướng chuyển đổi số, tích hợp dữ liệu phục vụ cấp phép, thanh tra và quan trắc sự cố. Trong lĩnh vực tiêu chuẩn, 20 tiêu chuẩn quốc gia liên quan đã được công bố vào tháng 6/2026. Việt Nam cũng đã tiếp nhận báo cáo đánh giá hạ tầng điện hạt nhân INIR của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) vào tháng 4.

Nhân lực là một thách thức khác. Theo phương án được Tiến sĩ Trần Quang Tuấn nêu, tổng nhân lực của VARANS được định hướng tăng lên 288 người vào năm 2030 và 388 người vào năm 2035, hướng tới mô hình cơ quan pháp quy “hiện đại - độc lập - đủ năng lực”.

Những con số này cho thấy việc chuẩn bị cho điện hạt nhân không chỉ diễn ra tại công trường xây dựng nhà máy. Năng lực kiểm tra, thẩm định và giám sát an toàn cũng phải được hình thành tương ứng với quy mô của chương trình.

Điện hạt nhân như 'mỏ neo' của hệ thống điện

Ở góc độ vận hành hệ thống điện, Thạc sĩ Nguyễn Văn Dương, Viện Năng lượng, cho rằng điện hạt nhân có lợi thế về hệ số công suất và khả năng vận hành liên tục, qua đó cung cấp lớp công suất nền ổn định.

Điều này càng có ý nghĩa khi tỷ trọng điện gió, điện mặt trời tăng. Do đặc tính phụ thuộc thời tiết của các nguồn năng lượng tái tạo, một nguồn điện vận hành ổn định có thể đóng vai trò như “mỏ neo”, hỗ trợ an toàn hệ thống.

Tuy nhiên, nhà máy điện hạt nhân không thể được xem xét riêng lẻ. Viện Năng lượng cho rằng cần đặt nguồn điện này trong bài toán tổng thể của hệ thống, từ lưới truyền tải, lưu trữ năng lượng đến các nguồn điện linh hoạt; đồng thời bảo đảm tiến độ giữa nhà máy và hạ tầng truyền tải.

Điện hạt nhân cũng được nhìn nhận như một chương trình khoa học-công nghệ quy mô quốc gia thay vì chỉ là dự án xây dựng nhà máy điện.

Các lĩnh vực liên quan trải rộng từ vật lý hạt nhân, khoa học vật liệu, cơ - nhiệt, thủy động lực đến tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và khoa học môi trường. Theo các chuyên gia, năng lực hình thành trong quá trình triển khai chương trình có thể lan tỏa sang những ngành yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật cao như hàng không, dầu khí và chế tạo.

Một vấn đề khác được nhiều chuyên gia đặt ra là khoảng cách giữa tính kỹ thuật cao của điện hạt nhân với khả năng tiếp nhận thông tin của công chúng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiện Thanh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng tâm lý e ngại phóng xạ và hệ thống thuật ngữ chuyên môn phức tạp có thể tạo khoảng trống nhận thức. Ông đề xuất chuyển kiến thức hạt nhân thành thông tin dễ hiểu hơn, kết hợp công nghệ mô phỏng và trải nghiệm thực tế để người dân có cơ sở khoa học khi đánh giá vấn đề.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Nhị Điền, Chủ tịch Hội Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, cũng cho rằng truyền thông cần đi cùng chương trình điện hạt nhân. Bên cạnh truyền thông đại chúng để xây dựng sự đồng thuận, cần tăng cường truyền thông khoa học, công khai những thông tin dễ hiểu về môi trường, sức khỏe và chủ động đối thoại với người dân tại vùng dự án.

MAI LOAN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/phat-trien-dien-hat-nhan-khong-danh-doi-an-toan-lay-tien-do-post990557.html