Bài 3: Gỡ điểm nghẽn khoa học công nghệ, tạo động lực tăng trưởng mới
Vận dụng Luật Thủ đô năm 2026, Hà Nội đã thông qua 6 nghị quyết với cơ chế đặc thù về thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây được xem là hướng đi quan trọng nhằm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, đồng thời tạo dư địa tăng trưởng mới...

Vận dụng Luật Thủ đô năm 2026, Hà Nội đã thông qua 6 nghị quyết với cơ chế đặc thù về thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây được xem là hướng đi quan trọng nhằm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, đồng thời tạo dư địa tăng trưởng mới, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô.

Hà Nội là địa phương hội tụ nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và đội ngũ trí thức hàng đầu cả nước. Tuy nhiên, trong nhiều năm, một nghịch lý vẫn tồn tại: tiềm lực khoa học công nghệ rất lớn nhưng kết quả nghiên cứu chưa được chuyển hóa mạnh mẽ thành sản phẩm, dịch vụ và động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Những điểm nghẽn về cơ chế, thủ tục hành chính, nguồn lực đầu tư, chuyển giao công nghệ và môi trường thử nghiệm đã làm chậm quá trình đưa khoa học công nghệ vào cuộc sống. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Luật Thủ đô năm 2026, Hà Nội đang chủ động xây dựng hàng loạt cơ chế đặc thù để tháo gỡ những rào cản này, hướng tới mục tiêu đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng mới của Thủ đô.

Các đại biểu tham dự Lễ khai trương Sàn Giao dịch công nghệ (HanoTEX) và Chợ Chuyển đổi số (DTMart) do Sở KH&CN Hà Nội tổ chức chiều ngày 3/2/2026.
Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học, rào cản lớn nhất đối với hoạt động nghiên cứu trong thời gian qua không phải là thiếu ý tưởng, mà là những thủ tục hành chính cứng nhắc. Thực tế, nhiều chủ nhiệm đề tài khoa học phải thực hiện các thủ tục mang tính "hợp thức hóa" như ký hợp đồng thuê khoán chuyên môn với đơn vị không liên quan, hay khi lấy mẫu nghiên cứu vẫn phải hoàn thiện nhiều thủ tục chứng từ. Những quy định này làm giảm tính chủ động của nhà khoa học và kéo dài thời gian triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn đó, Hà Nội đã ban hành một hệ thống chính sách mới theo hướng trao quyền nhiều hơn cho các tổ chức, cá nhân làm khoa học.
Thành phố đã xây dựng hệ thống chính sách tương đối toàn diện với 6 Nghị quyết số: 24, 25. 26, 58, 59, 60 có hiệu lực từ tháng 7/2026 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp từ nghiên cứu, phát triển công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến thương mại hóa sản phẩm và thử nghiệm công nghệ mới theo cơ chế sandbox.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết, thành phố đã xây dựng hệ thống chính sách tương đối toàn diện với 6 Nghị quyết số: 24, 25. 26, 58, 59, 60 có hiệu lực từ tháng 7/2026 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp từ nghiên cứu, phát triển công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến thương mại hóa sản phẩm và thử nghiệm công nghệ mới theo cơ chế sandbox. Điểm nổi bật là các chính sách được thiết kế theo một chuỗi xuyên suốt, từ nghiên cứu, phát triển công nghệ, thử nghiệm, thương mại hóa đến phát triển sản phẩm số và huy động nguồn lực.
Ngày 22/7/2026, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 288/KH-UBND triển khai 6 nghị quyết của HĐND thành phố về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Sáu nghị quyết tập trung vào các khâu then chốt gồm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, phát triển hạ tầng khoa học công nghệ, thử nghiệm có kiểm soát, khởi nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số và thành lập Quỹ Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố.
Đây được xem là bước cụ thể hóa quan trọng tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW và Luật Thủ đô, tạo hành lang pháp lý để Hà Nội chủ động triển khai các cơ chế đặc thù trước yêu cầu phát triển mới.




Thủ đô đưa công vệ vào các dịch vụ hành chính công.
Đơn cử về cơ chế hỗ trợ, ông Tuấn dẫn chứng, một trong những điểm nghẽn lớn nhất của hoạt động khoa học công nghệ là nguồn lực đầu tư. Nhiều đề tài nghiên cứu có giá trị nhưng gặp khó khăn do chi phí thiết bị, phòng thí nghiệm và vận hành rất lớn.
Để giải quyết vấn đề này, Nghị quyết 24/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố Hà Nội quy định nhiều chính sách hỗ trợ mạnh. Theo đó, ngân sách thành phố có thể hỗ trợ tối đa 100% kinh phí mua sắm hoặc thuê máy móc, thiết bị, phần mềm, hệ thống công nghệ và hệ thống tích hợp kỹ thuật số phục vụ trực tiếp các nhiệm vụ khoa học công nghệ trọng điểm của Thủ đô; đồng thời hỗ trợ 100% chi phí vận hành thiết bị trong suốt thời gian thực hiện nhiệm vụ.
Không chỉ hỗ trợ nghiên cứu, Hà Nội còn tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu. Những nhiệm vụ khoa học công nghệ do doanh nghiệp đề xuất có thể được giao trực tiếp nếu có vốn đối ứng tối thiểu 50%, qua đó giúp ngân sách nhà nước đóng vai trò "vốn mồi", đồng thời khuyến khích doanh nghiệp cùng chia sẻ trách nhiệm và rủi ro.

Cảnh sát giao thông Hà Nội áp dụng camera AI giám sát.
Một điểm mới đáng chú ý khác là Nghị quyết 26/2026/NQ-HĐND về thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Theo cơ chế này, các công nghệ, sản phẩm hoặc mô hình mới không phải chờ hoàn thiện toàn bộ hành lang pháp lý mới được triển khai, mà có thể thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và điều kiện xác định, đi kèm cơ chế giám sát và đánh giá rủi ro. Đối với những dự án giải quyết các bài toán lớn của Hà Nội, thành phố hỗ trợ tối đa 50% chi phí hợp lệ.
Những cơ chế này đang từng bước tháo gỡ rào cản về thể chế, tạo không gian để các ý tưởng công nghệ được thử nghiệm nhanh hơn và sớm đi vào thực tiễn.

Theo ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Hà Nội đang đứng trước yêu cầu tạo ra những động lực tăng trưởng mới để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số trong năm 2026. Thành phố đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp 22% GRDP trong năm 2026, trong khi hiện mới đạt 16,7%. Để đạt được mục tiêu này, điều quan trọng không chỉ là phát triển công nghệ mà phải xây dựng được cầu nối giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và nhu cầu thực tiễn của thành phố.
Hiện Hà Nội có 221 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hơn 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và trên 11.000 doanh nghiệp công nghệ số. Đây là nguồn lực quan trọng để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thủ đô.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, vấn đề không chỉ là có doanh nghiệp hay công nghệ, mà là làm thế nào để công nghệ giải quyết được các "điểm nghẽn" của thành phố như giao thông, an toàn đô thị, ô nhiễm môi trường, truy xuất nguồn gốc hàng hóa hay xây dựng đô thị thông minh.
Một ví dụ điển hình là dự án Hà Nội Smart Police. Ông Lê Bắc Nam, CEO và nhà sáng lập Công ty TNHH Công nghệ 44+ Technologies và Công ty NDAMAPS, cho biết ông lựa chọn trở về Việt Nam sau nhiều năm làm việc tại nước ngoài với mong muốn xây dựng nền tảng bản đồ số của người Việt. Để phát triển một sản phẩm công nghệ nền tảng phải mất nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và cần một môi trường thuận lợi để doanh nghiệp có thể đưa sản phẩm vào ứng dụng thực tế. Những cải cách về thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đã giúp thời gian đăng ký bảo hộ sản phẩm công nghệ được rút ngắn từ gần hai năm xuống còn khoảng 3 - 6 tháng, hồ sơ được thực hiện trực tuyến và kết quả có thể được chuyển tận nơi.
Dự án Hà Nội Smart Police đang được triển khai cho thấy cách công nghệ có thể giải quyết bài toán quản trị đô thị. Hệ thống số hóa toàn bộ dữ liệu giao thông và an ninh trật tự của 126 xã, phường, hiển thị trực quan trên bản đồ số theo thời gian thực. Khi xảy ra sự cố như tai nạn giao thông, hỏa hoạn hay các tình huống khẩn cấp, hệ thống tự động định vị, truy xuất dữ liệu liên quan để hỗ trợ chỉ huy đưa ra quyết định nhanh hơn.
Đáng chú ý, giải pháp này tận dụng hệ thống camera hiện có và tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), giúp tiết kiệm đáng kể chi phí đầu tư so với việc thay mới đồng loạt camera AI chuyên dụng.

Tuy nhiên, theo ông Lê Bắc Nam, hành trình phát triển sản phẩm công nghệ “Make in Vietnam” vẫn cần nhiều nỗ lực. Với những doanh nghiệp đi vào lĩnh vực nền tảng, khó khăn không chỉ nằm ở nghiên cứu công nghệ mà còn ở việc tìm kiếm khách hàng đầu tiên, chứng minh hiệu quả sản phẩm và tạo dựng niềm tin trên thị trường vốn đã có sự hiện diện của các nền tảng quốc tế.



Hệ thống robot tự động được thực nghiệm tại Hòa Lạc.

Để các kết quả nghiên cứu không nằm trên giấy, Hà Nội đang xây dựng các thiết chế kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Ông Trần Quang Hưng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội, cho biết Trung tâm được tổ chức theo mô hình hợp tác "ba nhà": Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước nắm giữ 70% vốn điều lệ; Công ty CMC nắm 15%; Đại học Bách khoa Hà Nội nắm 15%.
Theo ông Trần Quang Hưng, mô hình này giúp Trung tâm chủ động hơn về tài chính, nhân sự, đồng thời có thể kết nối các vườn ươm, quỹ đầu tư, doanh nghiệp và các trường đại học để hỗ trợ startup.

Quan trọng hơn, Trung tâm đóng vai trò kết nối các "bài toán thực tế" của thành phố với cộng đồng nghiên cứu và doanh nghiệp. Khi một sản phẩm công nghệ phù hợp với nhu cầu của khu vực công, cơ quan nhà nước có thể trở thành "khách hàng đầu tiên", vừa giúp giải quyết vấn đề thực tiễn, vừa tạo môi trường thử nghiệm và thương mại hóa cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Theo ông, chính cơ chế đặt hàng từ khu vực công sẽ tạo cú hích lớn để cộng đồng sáng tạo mạnh dạn đầu tư vào những công nghệ mới.
Ở góc độ cộng đồng doanh nghiệp, GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội, cho rằng doanh nghiệp phải thay đổi tư duy phát triển nếu muốn tận dụng được cơ hội từ chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Ở góc độ cộng đồng doanh nghiệp, GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội, cho rằng doanh nghiệp phải thay đổi tư duy phát triển nếu muốn tận dụng được cơ hội từ chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Theo GS.TS. Mạc Quốc Anh, doanh nghiệp cần chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng bằng năng suất; từ quản trị dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ "mua công nghệ" sang "giải quyết bài toán bằng công nghệ"; đồng thời chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế về con người có tri thức, kỹ năng và khả năng sáng tạo.
Hiệp hội cũng đã tổng hợp các kiến nghị của doanh nghiệp thành sáu nhóm vấn đề gồm chính sách, khoa học công nghệ và dữ liệu, vốn, thị trường, nhân lực, đất đai và điều kiện đầu tư kinh doanh để kiến nghị các cơ quan chức năng tiếp tục tháo gỡ.
Đánh giá về hệ thống cơ chế đặc thù của Hà Nội, PGS.TS. Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, cho rằng việc thành phố đồng thời ban hành nhiều nghị quyết về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã tạo nên một hệ sinh thái chính sách tương đối đồng bộ.
Theo PGS.TS. Bùi Thị An, các nghị quyết không chỉ bao quát từ quỹ đầu tư mạo hiểm, sàn giao dịch công nghệ, cơ chế sandbox đến hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, mà còn giúp khắc phục tình trạng chính sách rời rạc, tạo điều kiện để các cơ chế phát huy hiệu quả ngay từ đầu.

Tuy nhiên, bà An cũng cho rằng để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, Hà Nội cần làm rõ trách nhiệm thực thi của từng cơ quan, gắn chính sách với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và nhà khoa học, đồng thời bảo đảm đủ nguồn lực tài chính, cơ chế phối hợp và công tác truyền thông để cộng đồng khoa học, doanh nghiệp và người dân hiểu, tiếp cận được các chính sách mới.
Cùng quan điểm đó, GS.TS. Nguyễn Đình Đức, chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực vật liệu - kết cấu tiên tiến và composite, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng để thực hiện hiệu quả Nghị quyết 57, không chỉ thành phố mà các xã, phường cũng cần có chiến lược, cơ chế rõ ràng về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chính sách của thành phố không chỉ dành cho nhà khoa học mà còn phải tạo cơ chế để chính quyền địa phương cùng đồng hành, khơi dậy tiềm năng đổi mới sáng tạo ngay từ cơ sở.
Theo GS.TS. Nguyễn Đình Đức, các địa phương cần chủ động phối hợp với viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, đưa các nhà khoa học trẻ về cơ sở tham gia giải quyết những bài toán thực tiễn, từ chuyển đổi số đến phát triển công nghệ cao. Chính sách của thành phố không chỉ dành cho nhà khoa học mà còn phải tạo cơ chế để chính quyền địa phương cùng đồng hành, khơi dậy tiềm năng đổi mới sáng tạo ngay từ cơ sở. Muốn đạt mục tiêu lớn, Hà Nội cần "dám làm, dám quyết và công khai, minh bạch", đồng thời xây dựng môi trường làm việc đủ hấp dẫn để thu hút các nhóm nghiên cứu và chuyên gia chất lượng cao.
Thực tiễn cho thấy, Hà Nội là một trong số ít địa phương chủ động cả về thể chế và nguồn lực tài chính trong triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thành phố không chỉ ban hành các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm số, mà còn xây dựng sàn giao dịch công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ phát triển khoa học công nghệ, cơ chế đặt hàng sản phẩm công nghệ và chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao.
Khi những rào cản về thể chế, dữ liệu, vốn, nhân lực và môi trường thử nghiệm được tháo gỡ, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ không chỉ là một lĩnh vực phát triển, mà trở thành động lực tăng trưởng mới của Hà Nội, góp phần nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và giải quyết hiệu quả những bài toán lớn trong quá trình xây dựng Thủ đô hiện đại, thông minh và phát triển bền vững.
*****
Bài và ảnh: Quang Phong - Xuân Cường
Trình bày: Nguyễn Hà

