Phát triển kinh tế: Bài toán không chỉ là tốc độ tăng trưởng cao

Động lực tăng trưởng kinh tế năm 2026 đến từ nhiều lĩnh vực, nổi bật là công nghiệp chế biến, chế tạo, đầu tư công, dòng vốn FDI, dịch vụ và nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, phía sau con số tăng trưởng tích cực là những thách thức, sức ép về lạm phát, tỷ giá, tín dụng, cán cân thương mại và sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp. Bài toán đặt ra đối với nền kinh tế không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao...

Công nghiệp tiếp tục được kỳ vọng là động lực quan trọng của nền kinh tế. Ảnh: TTXVN

Công nghiệp tiếp tục được kỳ vọng là động lực quan trọng của nền kinh tế. Ảnh: TTXVN

 Nhiều động lực…

Triển vọng kinh tế Việt Nam được củng cố khi tăng trưởng nửa đầu năm 2026 vượt kỳ vọng, tạo cơ sở để Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam lên 7,8% trong năm 2026 và 7,6% năm 2027, cao hơn mức dự báo trước đó.

Dự báo của ADB cho thấy công nghiệp tiếp tục được kỳ vọng là động lực quan trọng của nền kinh tế. Khu vực công nghiệp có thể tăng trưởng khoảng 9% trong năm 2026, nối tiếp đà tăng mạnh trong nửa đầu năm. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành chế biến, chế tạo tăng từ 51,8 điểm trong tháng 6 lên 52,9 điểm trong tháng 7, cho thấy sản lượng và đơn hàng mới tiếp tục mở rộng.

Dòng vốn FDI tiếp tục hỗ trợ đáng kể cho năng lực sản xuất. Trong 7 tháng đầu năm 2026, ngành chế biến, chế tạo chiếm 57% tổng vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh. Điều này không chỉ tạo thêm năng lực sản xuất mà còn có khả năng lan tỏa sang thương mại, vận tải, logistics và các dịch vụ kinh doanh.

Đến cuối tháng 7, giải ngân đầu tư công đạt 425,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 41,9% kế hoạch năm. Nếu tiến độ giải ngân được đẩy nhanh trong những tháng cuối năm, đầu tư công còn dư địa đáng kể để tạo thêm lực kéo cho tăng trưởng. Tác động không chỉ nằm ở quy mô vốn trực tiếp đưa vào nền kinh tế mà còn ở hiệu ứng lan tỏa tới xây dựng, vật liệu, vận tải, dịch vụ và việc làm.

Khu vực dịch vụ và nhu cầu trong nước tiếp tục là điểm tựa. ADB dự báo dịch vụ tăng trưởng khoảng 8% trong năm 2026. Du lịch phục hồi cùng sự mở rộng của logistics, thương mại, dịch vụ tài chính và các hoạt động số hóa tiếp tục tạo thêm động lực cho khu vực này.

Nhu cầu trong nước dự kiến tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, mặc dù tiêu dùng chưa tăng tốc đáng kể. Việc tăng lương tối thiểu, tăng lương khu vực công và các chính sách hỗ trợ tài khóa, trong đó có giảm 2% thuế giá trị gia tăng đến hết năm 2026, có thể góp phần củng cố sức mua trong những tháng cuối năm.

Nông nghiệp cũng được dự báo duy trì mức tăng trưởng 3,9% trong năm 2026, nhờ sản xuất ổn định và xuất khẩu được hỗ trợ. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 35,9 tỷ USD trong nửa đầu năm, tăng 6% so với cùng kỳ. Việc đa dạng hóa thị trường và tận dụng các hiệp định thương mại tiếp tục là yếu tố hỗ trợ quan trọng đối với khu vực này.

Nhìn tổng thể, nền kinh tế đang có nhiều động lực đồng thời: công nghiệp hưởng lợi từ sản xuất và FDI; xây dựng được hỗ trợ bởi đầu tư công và các dự án hạ tầng; dịch vụ hưởng lợi từ du lịch và nhu cầu nội địa; nông nghiệp duy trì vai trò từ xuất khẩu.

TS. Nguyễn Bích Lâm - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính - cũng nhận định: Tín hiệu tích cực nổi bật nhất trong 8 tháng đầu năm là năng lực sản xuất công nghiệp đang được mở rộng với tốc độ tăng rõ rệt hơn. Khu vực sản xuất đang có nền tảng tương đối tốt để bước vào những tháng cuối năm.

… song không ít thách thức

Tuy nhiên, cơ cấu các động lực tăng trưởng cũng cho thấy một điểm đáng lưu ý: đầu tư đang đóng vai trò ngày càng lớn trong khi tiêu dùng chưa thực sự tăng tốc.

Tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 41,9% sau 7 tháng cũng cho thấy một phần đáng kể kế hoạch đầu tư công vẫn chưa được chuyển hóa thành hoạt động kinh tế thực. Vì vậy, vấn đề không đơn thuần là có thêm nguồn lực tài khóa, mà quan trọng hơn là khả năng biến nguồn lực đó thành các dự án được triển khai đúng tiến độ, tạo ra năng lực sản xuất và giá trị kinh tế trong tương lai.

Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng ngân hàng tương đương khoảng 145% GDP, trong khi quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp chỉ tương đương khoảng 10% GDP. Chênh lệch này cho thấy hệ thống tài chính vẫn dựa chủ yếu vào ngân hàng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Khi tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi tại nhiều ngân hàng tiến sát hoặc vượt các giới hạn theo quy định.

Tuy nhiên, bộ đệm vốn tương đối mỏng và tình trạng chênh lệch kỳ hạn kéo dài đã hạn chế dư địa duy trì tăng trưởng tín dụng nhanh, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng lớn cần nguồn vốn dài hạn. Do đó, việc tiếp tục phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng có thể gia tăng các yếu tố dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính và làm hạn chế tăng trưởng dựa vào đầu tư.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, các hiện tượng El Nino ngày càng mạnh có thể làm gia tăng nguy cơ hạn hán, nắng nóng và xâm nhập mặn, đặc biệt tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, chi phí đầu vào tăng, bất định về chính sách thương mại và các yêu cầu ngày càng khắt khe về tính bền vững và truy xuất nguồn gốc tại các thị trường lớn vẫn là những rủi ro.

Cán cân thương mại cũng đang tạo ra một nghịch lý đáng chú ý. Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu tăng mạnh 21,7%, chủ yếu nhờ nhóm hàng chế biến, chế tạo và điện tử. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng tới 34,8%, khiến thâm hụt thương mại hàng hóa lên 20,5 tỷ USD.

Một mặt, nhập khẩu tăng mạnh có thể phản ánh nhu cầu lớn hơn về máy móc, thiết bị và nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất, qua đó cho thấy hoạt động đầu tư và công nghiệp đang mở rộng. Nhưng mặt khác, tốc độ nhập khẩu cao hơn đáng kể so với xuất khẩu khiến đóng góp của xuất khẩu ròng vào tăng trưởng suy giảm, đồng thời gây sức ép lên cán cân vãng lai và tỷ giá.

Triển vọng xuất khẩu cũng đối mặt với thách thức do các thị trường lớn tăng trưởng chậm lại, chính sách thương mại của Hoa Kỳ bất ổn định và nguy cơ chuỗi cung ứng bị gián đoạn.

Áp lực lạm phát cũng đang cao hơn so với dự báo trước đó. ADB nâng dự báo lạm phát bình quân năm 2026 lên 4,3%, từ mức 4% trong dự báo hồi tháng 7. Sự kết hợp giữa cầu nội địa, đầu tư công và tăng trưởng tín dụng có thể tiếp tục tạo áp lực từ phía cầu. Trong khi đó, giá năng lượng và chi phí nhập khẩu tăng có thể tác động đến chi phí sản xuất, vận tải và mặt bằng giá trong nước.

Trong 7 tháng đầu năm 2026, khoảng 155.300 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, trong khi khoảng 187.200 doanh nghiệp được thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Việc số doanh nghiệp gia nhập thị trường vẫn tăng là tín hiệu tích cực, song số doanh nghiệp rút lui ở mức cao cho thấy chi phí và điều kiện kinh doanh vẫn là vấn đề cần quan tâm.

Tăng trưởng cao đi đôi với kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô

Nhìn vào bức tranh kinh tế 8 tháng đầu năm 2026, TS. Nguyễn Bích Lâm chỉ rõ, năng lực sản xuất đang tăng nhanh hơn nhu cầu trong nước; quy mô thương mại hàng hóa quốc tế và FDI tăng nhanh hơn tốc độ nâng cao giá trị gia tăng và năng lực nội sinh; đầu tư tăng nhưng yêu cầu chuyển hóa vốn thành năng suất và năng lực mới ngày càng cấp thiết; trong khi sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp chưa thực sự vững chắc. Các yếu tố này phản ánh một vấn đề: các nguồn lực tăng trưởng đang tăng lên, nhưng năng lực nội sinh để hấp thụ, chuyển hóa và giữ lại giá trị từ những nguồn lực đó chưa tăng tương xứng.

Đây cũng là lý do câu chuyện tăng trưởng không thể chỉ nhìn qua tốc độ tăng GDP.

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu đánh giá rõ hơn chất lượng tăng trưởng, thu nhập thực của người lao động, các nhóm dân cư và việc làm; đồng thời yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu để số liệu thống kê phản ánh đầy đủ, khách quan và sát thực tiễn hơn.

Yêu cầu này gợi mở một cách nhìn rộng hơn về tăng trưởng: thước đo một nền kinh tế phát triển không chỉ là mức tăng GDP mà cònở nguồn gốc của tăng trưởng, mức cải thiện năng suất và khả năng chuyển hóa thành quả tăng trưởng thành thu nhập, việc làm, năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của doanh nghiệp.

Bài toán đặt ra với nền kinh tế cũng phần nào được gợi mở hướng giải quyết qua các khuyến nghị của ADB. 

Theo ADB, triển vọng ngắn hạn của kinh tế Việt Nam đang được đánh giá tích cực, nhưng đi cùng là những thách thức ngày càng rõ về chất lượng tăng trưởng. 

Duy trì tốc độ cao sẽ đòi hỏi kiểm soát lạm phát, giữ ổn định tỷ giá, bảo đảm chất lượng tín dụng và nâng cao hiệu quả đầu tư công.

Về dài hạn, việc giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng thông qua phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực của khu vực tư nhân, cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực và thúc đẩy năng suất sẽ có ý nghĩa quyết định.

Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam Shantanu Chakraborty cho rằng trong bối cảnh dư địa của chính sách tiền tệ thu hẹp, cách tiếp cận hiệu quả nhất là giảm sự phụ thuộc quá mức vào chính sách tiền tệ, phát huy vai trò của chính sách tài khóa và cải cách cơ cấu để mở rộng năng lực cung của nền kinh tế. Việc duy trì tăng trưởng cao cần được đặt trên nền tảng hạ tầng tốt hơn, thể chế vững mạnh hơn, đầu tư tư nhân mạnh mẽ hơn và thị trường vốn phát triển sâu rộng hơn.

 Khi các động lực tăng trưởng được mở rộng và cân bằng hơn giữa đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và năng suất, nền kinh tế sẽ có thêm dư địa để duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà không phải đánh đổi quá lớn về ổn định kinh tế vĩ mô - ADB nhấn mạnh./.

THÀNH ĐỨC

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/phat-trien-kinh-te-bai-toan-khong-chi-la-toc-do-tang-truong-cao