Phiên toàn thể 5 Diễn đàn Tương lai ASEAN: Những mô hình phát triển mới trong bối cảnh chuyển dịch toàn cầu

Trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) năm 2026, chiều ngày 10/6 đã diễn ra Phiên toàn thể 5 với nội dung 'Những mô hình phát triển mới trong bối cảnh chuyển dịch toàn cầu'.

Phát biểu mở đầu phiên thảo luận về những mô hình phát triển mới trong bối cảnh chuyển dịch toàn cầu, Thứ trưởng Ngoại giao Thái Lan Sarun Charoensuwan cho rằng, mô hình tăng trưởng truyền thống từng tạo nên thành công của ASEAN đang đứng trước yêu cầu phải thích ứng mạnh mẽ.

Trong nhiều thập niên, tăng trưởng của khu vực được thúc đẩy bởi các nền kinh tế mở, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lực lượng lao động cạnh tranh và định hướng xuất khẩu, qua đó đưa hàng triệu người thoát nghèo và giúp ASEAN trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Ngoại giao Thái Lan, vấn đề hiện nay không phải là mô hình đó đã thất bại, mà là những điều kiện từng bảo đảm cho thành công của tăng trưởng đang thay đổi nhanh chóng khi chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, thương mại toàn cầu có xu hướng phân mảnh, công nghệ phát triển với tốc độ cao, rủi ro khí hậu ngày càng lớn, trong khi nhiều quốc gia ASEAN phải đối mặt với già hóa dân số, tăng trưởng năng suất chậm và nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình.

Trước những chuyển động đó, nhà ngoại giao Thái Lan cho rằng, ASEAN cần tập trung vào ba ưu tiên chiến lược, bao gồm tăng cường khả năng chống chịu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và sẵn sàng cho tương lai, đồng thời xây dựng những hình thức hợp tác mới.

Theo ông Sarun Charoensuwan, khu vực cần duy trì môi trường thương mại và đầu tư cởi mở, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, củng cố an ninh lương thực và năng lượng, đồng thời đầu tư mạnh mẽ hơn cho hạ tầng số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nâng cao kỹ năng số và học tập suốt đời để bảo đảm mọi người dân đều được hưởng lợi từ tiến bộ công nghệ.

Thứ trưởng Sarun Charoensuwan cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc đa dạng hóa quan hệ đối tác, tránh phụ thuộc quá mức vào bất kỳ thị trường, nguồn công nghệ hay liên kết địa chính trị đơn lẻ nào, qua đó giúp ASEAN vừa giữ vững tính cởi mở và bao trùm vốn có, vừa nâng cao năng lực thích ứng trước những biến động của môi trường phát triển toàn cầu.

Theo ông Sarun Charoensuwan, nếu chuyển hóa được những định hướng này thành các kết quả cụ thể gắn với Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, ASEAN sẽ không chỉ thích ứng với thay đổi mà còn có thể chủ động định hình tương lai theo hướng có lợi cho khu vực và người dân.

Tiếp nối chương trình, bà Mari Pangestu, nguyên Bộ trưởng Thương mại Indonesia cho rằng, thế giới đang trải qua một giai đoạn chuyển đổi mang tính cấu trúc chưa từng có tiền lệ, đòi hỏi các quốc gia và khu vực phải định hình những mô hình phát triển hoàn toàn mới.

Theo bà, trật tự toàn cầu hiện nay đang được tái định bởi năm động lực lớn, bao gồm sự dịch chuyển của cán cân quyền lực quốc tế, các thách thức về y tế và già hóa dân số, quá trình chuyển đổi năng lượng song hành với khủng hoảng năng lượng, những tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và cuộc cách mạng công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI). Những xu hướng này không diễn ra riêng lẻ, mà đang hội tụ, làm thay đổi căn bản môi trường phát triển của các quốc gia.

Bà Mari Pangestu nhấn mạnh, ASEAN cần phát huy “năng lực hành động” của mình, thay vì đóng vai trò thụ động trước các biến động quốc tế. Với quy mô thị trường lớn, vị thế ngày càng tăng và những thành tựu đạt được trong nhiều thập kỷ qua, ASEAN có khả năng đóng góp vào việc định hình chương trình nghị sự toàn cầu mới. Tuy nhiên, điều đó đòi hỏi khu vực phải xây dựng một mô hình phát triển phù hợp với bối cảnh mới, thay vì tiếp tục dựa vào những giả định của giai đoạn trước.

Đề cập đến thách thức phát triển của nhiều quốc gia ASEAN, bà Mari Pangestu cho rằng, ASEAN cần chuyển từ việc thu hút FDI phục vụ lắp ráp đơn giản sang thu hút các dòng vốn mang lại chuyển giao công nghệ, thúc đẩy phát triển chuỗi cung ứng nội địa và tạo ra việc làm có giá trị gia tăng cao. Điều này đòi hỏi các chính phủ triển khai chính sách công nghiệp chủ động đi kèm đầu tư vào năng lượng, hạ tầng, kỹ năng lao động và hệ thống tiêu chuẩn chất lượng.

Bà cũng nhấn mạnh, tự chủ chiến lược và hội nhập kinh tế không phải là những mục tiêu đối lập. Theo bà, chính quá trình hội nhập sâu rộng thông qua các cơ chế như RCEP, CPTPP hay các sáng kiến hội nhập nội khối ASEAN sẽ tạo nền tảng cho tự chủ chiến lược của khu vực. Với thị trường hơn 680 triệu dân và quy mô GDP khoảng 4,2 nghìn tỷ USD, ASEAN sở hữu sức hấp dẫn đáng kể đối với các đối tác kinh tế toàn cầu.

Để xây dựng mô hình phát triển mới, bà Mari Pangestu đề xuất năm ưu tiên chính, bao gồm: Đẩy nhanh thực thi và nâng cấp RCEP; tập trung nâng cao độ phức tạp kinh tế thay vì chỉ theo đuổi tăng trưởng; phát triển nguồn nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược; biến chuyển đổi xanh thành động lực phát triển; và lồng ghép tư duy địa kinh tế vào mọi trụ cột hợp tác của ASEAN.

Bà khẳng định, mô hình phát triển từng tạo nên thành công của ASEAN được xây dựng cho một thế giới với thương mại mở, luật lệ ổn định và nguồn lao động giá rẻ dồi dào. Trong bối cảnh thế giới đã thay đổi sâu sắc, mô hình phát triển tiếp theo của ASEAN cần được xây dựng trên ba nền tảng cốt lõi là độ phức tạp kinh tế, khả năng chống chịu và hội nhập khu vực.

Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của chính phủ, doanh nghiệp, giới học giả và toàn bộ các bên liên quan trong ASEAN nhằm tạo ra những giải pháp thực tiễn cho tương lai phát triển của khu vực.

Từ góc nhìn học giả, GS. Lee Keun, Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) cho rằng, sự trở lại của chính sách công nghiệp là một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của kinh tế thế giới hiện nay.

Theo ông Lee Keun, trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gay gắt và những cú sốc như đại dịch hay đứt gãy chuỗi cung ứng bộc lộ nhiều điểm yếu của mô hình toàn cầu hóa truyền thống, các tổ chức từng ủng hộ mạnh mẽ tự do hóa như Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đã nhìn nhận lại vai trò của các công cụ hỗ trợ công nghiệp.

Không chỉ thuế quan, nhiều biện pháp như trợ cấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu hay các chính sách định hướng thị trường được xem là những công cụ hợp pháp để nuôi dưỡng các ngành công nghiệp mới, giúp các nền kinh tế đi sau vượt qua bất lợi về quy mô và tạo dựng năng lực cạnh tranh.

Lấy kinh nghiệm Hàn Quốc làm ví dụ, GS. Lee Keun cho rằng, việc hình thành các doanh nghiệp lớn - “nhà vô địch quốc gia” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa và nâng cấp chuỗi giá trị. Ông nhắc lại việc Hàn Quốc từng áp dụng mức thuế nhập khẩu rất cao đối với ô tô chở khách để tạo không gian phát triển cho Hyundai trước khi doanh nghiệp này đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Liên hệ với Việt Nam, vị học giả nhận định, quá trình chuyển đổi sang xe điện của Việt Nam đang cho thấy những tín hiệu tích cực, với VinFast có nhiều điểm tương đồng với Hyundai trong giai đoạn đầu phát triển.

Ông Lee Keun đồng thời cho rằng, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh hơn các doanh nghiệp dẫn dắt trong những lĩnh vực có lợi thế, như chế biến sâu và xây dựng thương hiệu cà phê, thay vì chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô, qua đó từng bước dịch chuyển lên những nấc thang giá trị cao hơn trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Trong khi đó, từ góc nhìn học thuật và hoạch định chính sách, GS. Masahiro Kawai, Trường Cao học Chính sách công, Đại học Tokyo (Nhật Bản) cho rằng, không tồn tại một mô hình phát triển bất biến phù hợp với mọi giai đoạn.

Theo chuyên gia Nhật Bản, các quốc gia luôn phải điều chỉnh mô hình phát triển để thích ứng với trình độ phát triển kinh tế, những thay đổi của môi trường bên ngoài và các ưu tiên chính sách mới.

Khi nền kinh tế chuyển từ mức thu nhập thấp lên trung bình và cao hơn, mục tiêu phát triển cũng thay đổi, từ xóa đói giảm nghèo sang tăng trưởng bao trùm và nâng cao chất lượng cuộc sống; trong khi động lực tăng trưởng dịch chuyển từ khai thác lao động và tích lũy vốn sang công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Cùng với đó, nhu cầu về hạ tầng cũng chuyển từ hạ tầng xã hội, công nghiệp truyền thống sang hạ tầng số và hạ tầng xanh.

Tuy nhiên, theo GS. Kawai, những biến động hiện nay như phân mảnh địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, xu hướng bảo hộ và sự phụ thuộc lẫn nhau trong kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu điều chỉnh sâu sắc hơn đối với các nền kinh tế ASEAN.

Dù vậy, chuyên gia này cho hay, khu vực không cần xây dựng một mô hình phát triển hoàn toàn mới, bởi những yếu tố từng tạo nên thành công của ASEAN như định hướng mở, thu hút đầu tư nước ngoài, hội nhập kinh tế khu vực và sự kết hợp thực dụng giữa Nhà nước với thị trường vẫn còn nguyên giá trị.

Điều ASEAN cần làm là mở rộng nhu cầu trong nước và khu vực, đa dạng hóa đối tác thương mại và chuỗi cung ứng, đồng thời tăng cường “tự chủ chiến lược” để giảm thiểu các cú sốc bên ngoài và xây dựng “tính không thể thay thế về chiến lược” thông qua những lợi thế riêng.

Theo ông Masahiro Kawai, một ASEAN đoàn kết, gắn kết và hội nhập sâu rộng hơn sẽ không chỉ nâng cao sức chống chịu của từng quốc gia thành viên mà còn gia tăng sức hấp dẫn và vị thế của cả khu vực trong cấu trúc kinh tế toàn cầu.

Về phía Việt Nam, TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), khẳng định tư duy phát triển cũng đã có những thay đổi sâu sắc trong vài thập niên qua.

Nếu như những năm 1990, mục tiêu chủ yếu là tăng trưởng kinh tế, sau đó mở rộng sang giảm nghèo và phát triển bền vững, thì khoảng 15 năm trở lại đây, trọng tâm đã chuyển sang mô hình phát triển bao trùm, bền vững, có khả năng chống chịu và dựa trên đổi mới sáng tạo.

Theo nguyên Phó Viện trưởng CIEM, quá trình phát triển hiện nay thực chất là một chuỗi chuyển đổi liên tục, từ kinh tế nâu sang kinh tế xanh, từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn, từ kinh tế truyền thống sang kinh tế số; đồng thời đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng những chuỗi cung ứng linh hoạt, bền bỉ và có tính chiến lược hơn trước các cú sốc bên ngoài.

Từ thực tiễn Việt Nam, TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh ba trụ cột quan trọng trong hoạch định chính sách, bao gồm ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách theo hướng thị trường và hội nhập quốc tế, qua đó không chỉ nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực mà còn mở rộng cơ hội lựa chọn và phát triển cho người dân và doanh nghiệp.

Theo ông, cải cách thể chế không nên chỉ dừng lại ở việc cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ, mà cần hướng tới xây dựng các thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm phân bổ công bằng hơn các thành quả phát triển và nâng cao năng lực quốc gia.

TS. Võ Trí Thành cũng chỉ ra rằng, doanh nghiệp cần được đặt ở vị trí trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cùng với việc đầu tư vào hạ tầng chiến lược, nâng cao năng lực công nghệ và hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp.

Ở cấp độ khu vực, vị chuyên gia đề xuất ASEAN cần tiến thêm một bước trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, không chỉ thúc đẩy tự do hóa và thịnh vượng chung mà còn thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối, đồng thời nghiên cứu hình thành một “Cộng đồng Đổi mới sáng tạo ASEAN” như một trụ cột mới cho tương lai.

Về phần mình, ông Srini Nagarajan, Giám đốc điều hành khu vực châu Á của British International Investment (BII), nhấn mạnh các nền kinh tế ASEAN đang phải giải quyết đồng thời nhiều bài toán phức tạp, từ tái cấu trúc địa chính trị, đa dạng hóa chuỗi cung ứng đến những đột phá công nghệ diễn ra ngày càng nhanh chóng.

Theo Giám đốc BII, thách thức lớn nhất hiện nay là duy trì tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đồng thời bảo đảm mục tiêu giảm phát thải và chuyển đổi xanh.

Trong bối cảnh đó, các quốc gia cần thúc đẩy cải cách mạnh mẽ hơn nhằm tạo dựng môi trường đầu tư ổn định và có khả năng dự báo, bởi “nếu không cải cách ngay từ hôm nay, việc thu hút thêm dòng vốn đầu tư sẽ trở nên rất khó khăn” và cách tiếp cận theo lối cũ sẽ không còn phù hợp.

Ông Nagarajan cho biết, các nhà đầu tư hiện đặc biệt quan tâm tới bốn yếu tố, gồm chính sách nhất quán và dễ dự báo, nhu cầu hạ tầng rõ ràng để phân bổ nguồn vốn dài hạn, nguồn nhân lực chất lượng và các cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro.

Về chuyển dịch năng lượng, đại diện BII nhận định, chi phí năng lượng tái tạo và lưu trữ đang giảm nhanh, mở ra cơ hội thúc đẩy quá trình chuyển đổi. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn của nhiều quốc gia ASEAN vẫn nằm ở hạ tầng lưới điện.

Theo ông, bên cạnh thúc đẩy Lưới điện ASEAN, các nước cần chú trọng kết nối “đoạn cuối” của hệ thống truyền tải tới các địa phương, mở rộng đầu tư vào hạ tầng xe điện và công nghệ chuyển đổi rác thải thành năng lượng.

Với vai trò là định chế tài chính phát triển, BII sẵn sàng cung cấp nguồn vốn mồi, chấp nhận rủi ro ban đầu để tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút thêm dòng vốn tư nhân vào các dự án xanh và hạ tầng bền vững của khu vực.

Nhóm PV

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/phien-toan-the-5-dien-dan-tuong-lai-asean-nhung-mo-hinh-phat-trien-moi-trong-boi-canh-chuyen-dich-toan-cau-404333.html