Phim ngắn AI và hàng loạt hệ lụy - Bài 5: Giữ bản sắc điện ảnh Việt
AI đang hiện diện ngày càng sâu trong mọi công đoạn sản xuất điện ảnh. Với điện ảnh Việt Nam, đây không còn là câu chuyện riêng của công nghệ, mà là bài toán lớn về bản quyền, chủ quyền dữ liệu, trách nhiệm nhà sản xuất và năng lực của đội ngũ sáng tạo. Khi một tác phẩm được tạo nên từ sự kết hợp giữa con người và thuật toán, việc bảo hộ điện ảnh không đơn thuần là bảo vệ bộ phim sau khi đóng máy, mà phải bảo vệ toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo ngay từ dữ liệu.
AI làm phim: Ai là tác giả?
TS Vũ Hoài Nam (Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) phân tích: AI đang tham gia từ hỗ trợ phát triển kịch bản, thiết kế nhân vật, tạo sinh cảnh quan, điều chỉnh ánh sáng đến mô phỏng những điều kiện quay phức tạp... Chính sự can thiệp sâu này đặt ra một vấn đề pháp lý và nghề nghiệp: Khi con người và máy tính cùng tham gia tạo ra tác phẩm, đâu là phần sáng tạo của con người?
Đặt câu hỏi “Ai là tác giả” đối với một tác phẩm AI, đạo diễn Phạm Vĩnh Khương nêu quan điểm: “AI chỉ là cây cọ, không có nhận thức hay tư cách pháp nhân để đứng tên tác giả. Quyền tác giả phải thuộc về đạo diễn - người đưa ra tư duy, viết câu lệnh, căn chỉnh góc máy và nhào nặn sản phẩm. Tuy nhiên, về mặt pháp lý toàn cầu, đây vẫn là vùng chưa có tiền lệ thống nhất”.


2 bộ phim AI của tác giả Việt Nam: Du hành xứ thiêng và Vương quốc ong. Ảnh: NVCC
Phân tích rõ hơn ranh giới giữa “sử dụng công cụ” và “máy tính tự sáng tạo”, ThS Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ VH-TT-DL) nhận định: Nếu trao quyền tác giả cho người chỉ gõ câu lệnh (prompt), hệ thống pháp luật sẽ đối mặt với rủi ro bảo hộ cho những “sáng tạo quá dễ dàng”, nơi một cá nhân chỉ cần gõ vài dòng chữ mà không qua quá trình lao động trí tuệ trực tiếp.
Ngược lại, nếu coi các sản phẩm do AI tạo ra thuộc về công cộng (Public domain), các hãng phim lớn sẽ không mạo hiểm đầu tư hàng triệu USD ứng dụng AI, bởi đối thủ có thể sao chép toàn bộ kỹ xảo, nhân vật ảo mà không sợ bị xử lý pháp lý.
Thực tiễn này đòi hỏi một hành lang pháp lý rõ ràng. Nghị định 134/2026/NĐ-CP (quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan) đã bước đầu giải bài toán này khi quy định: Tác phẩm có sử dụng AI được bảo hộ quyền tác giả khi con người đóng góp đáng kể, mang tính quyết định vào việc sáng tạo; chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của sản phẩm và không gây phương hại đến quyền tác giả đối với dữ liệu đầu vào.
Th.S Phạm Thị Kim Oanh cho biết thêm, Nghị định 134/2026/NĐ-CP cũng quy định thủ tục bắt buộc khi nộp hồ sơ đăng ký quyền tác phẩm điện ảnh: Chủ đơn phải khai báo trung thực các phần nội dung, hình ảnh hoặc âm thanh có sự tham gia của AI tạo sinh. Chứng nhận đăng ký sẽ cấp cho tổng thể bộ phim, nhưng loại trừ phạm vi bảo hộ đối với những phân cảnh, nhân vật ảo được tạo ra hoàn toàn độc lập bởi AI.
Tuy nhiên, thách thức kỹ thuật hiện nay là việc “bóc tách” đâu là lao động trí tuệ của con người, đâu là sản phẩm của thuật toán để thực hiện nghĩa vụ khai báo, do Việt Nam vẫn thiếu các công cụ kiểm toán kỹ thuật (AI-auditing).
NSƯT Trịnh Quang Tùng, Phó Tổng Giám đốc phụ trách Hãng Phim tài liệu và khoa học Trung ương, nhấn mạnh, cần phải dán nhãn minh bạch đối với tác phẩm có sử dụng AI, bởi khán giả có quyền được biết hình ảnh mình đang xem là thực tế ghi nhận hay do công nghệ tạo ra.
Bảo vệ dữ liệu điện ảnh và bản sao số của nghệ sĩ
Nếu đầu ra của AI đặt ra câu hỏi “ai là tác giả?”, thì đầu vào lại dẫn đến câu hỏi quan trọng không kém: “AI đã học từ dữ liệu nào?”. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, việc sử dụng công cụ Deepfake để quét hình ảnh, giọng nói của các nghệ sĩ rồi tái tạo trái phép nhằm mục đích trục lợi đang biến hàng loạt nghệ sĩ thành nạn nhân.
Cục Điện ảnh ủng hộ việc các nhà làm phim trẻ sử dụng AI để mở rộng khả năng sáng tạo, giảm chi phí và thử nghiệm phương thức biểu đạt mới. Song song đó, phải nâng cao nhận thức về đạo đức nghề nghiệp, quyền tác giả, quyền liên quan, quyền đối với hình ảnh, giọng nói cá nhân và trách nhiệm đối với nội dung khi phổ biến tới công chúng.
Chúng ta hướng tới môi trường AI hỗ trợ con người sáng tạo chứ không thay thế con người; giá trị văn hóa, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm vẫn phải do con người quyết định.
Ông ĐẶNG TRẦN CƯỜNG, Cục trưởng Cục Điện ảnh Việt Nam
Từ NSND Hồng Vân đến các ca sĩ, diễn viên Mỹ Tâm, Quang Lê, Ngô Thanh Vân, Ninh Dương Lan Ngọc, Lý Hải - Minh Hà... đều từng bất đắc dĩ trở thành “gương mặt đại diện” cho các sản phẩm chưa từng sử dụng hay hợp tác. Thậm chí, hình ảnh và bản sao AI của Quốc Trường, Khắc Việt, Khôi Trần còn bị mạo danh để lôi kéo chơi cờ bạc online hay tín dụng đen.
Ở chiều ngược lại, vụ việc nhà sản xuất phim Chốt đơn dùng AI tạo hình nhân vật có nét tương đồng với Hoa hậu Thùy Tiên cũng cho thấy ranh giới mong manh giữa pháp lý và đạo đức nghề nghiệp đối với “bản sao số”...
Nhìn từ góc độ quản trị, việc tự ý quét dữ liệu, cắt ghép hay tạo ra “bản sao AI” khi chưa có sự đồng ý rõ ràng về thù lao và phạm vi sử dụng là hành vi vi phạm nghiêm trọng Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ, đe dọa trực tiếp đến uy tín, sinh kế của nghệ sĩ và môi trường đầu tư điện ảnh.
Về xu hướng quốc tế, ThS Phạm Thị Kim Oanh cho biết, việc huấn luyện AI phục vụ mục đích thương mại đang dịch chuyển mạnh mẽ sang cơ chế “xin phép và trả tiền” (licensing). Nghị định 134/2026/NĐ-CP của Việt Nam cũng phân loại rõ: Miễn trừ cho mục đích nghiên cứu khoa học, phi thương mại, nhưng bắt buộc phải thu phí bản quyền đối với các mô hình AI thương mại.
Ở góc độ doanh nghiệp sản xuất, bà Trịnh Thị Thủy Liên, Tổng Giám đốc VinStudio, nhấn mạnh: “Các studio cần chủ động quản lý dữ liệu, áp dụng nhãn chìm kỹ thuật số (watermark), chuẩn truy xuất nguồn gốc nội dung (C2PA) và cơ chế theo dõi tài sản trí tuệ. Mô hình hợp tác giữa Lionsgate và Runway - huấn luyện AI trên chính kho phim đã được cấp phép của hãng, là ví dụ điển hình cho việc ứng dụng công nghệ có đồng thuận và có đền bù”.
Giữ lại dấu ấn con người trong kỷ nguyên số
Để thích ứng với bối cảnh mới, khoảng trống cần lấp đầy không chỉ là các văn bản luật mà còn là năng lực thực thi và quy trình quản trị chuyên nghiệp. Một quy trình sản xuất phim hiện đại cần phải lưu giữ đầy đủ “dấu vết sáng tạo”: sử dụng công cụ AI nào, ở công đoạn nào, dữ liệu đầu vào từ đâu, AI tạo ra phần nào và con người chỉnh sửa ra sao. Đây chính là bằng chứng pháp lý quan trọng khi phát sinh tranh chấp bản quyền.
Bên cạnh đó, bài toán nhân lực trở thành yếu tố then chốt. TS Vũ Hoài Nam cho biết, từ năm học 2026-2027, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông triển khai chương trình đào tạo “Công nghệ công nghiệp văn hóa”, kết hợp giữa nghệ thuật và kỹ thuật nhằm đào tạo đội ngũ nhân sự có khả năng làm chủ công nghệ, hiểu rõ pháp lý và quy trình sản xuất nội dung số.
Đánh giá về tầm nhìn dài hạn, GS Hồ Tú Bảo (Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán) cho rằng, nếu trong 3-5 năm tới, Việt Nam không xây dựng đồng bộ hệ thống pháp lý vững chắc về AI và tài sản trí tuệ, chương trình đào tạo tích hợp AI, quỹ hỗ trợ điện ảnh vận hành hiệu quả và ý thức rõ ràng về bản sắc văn hóa, thì sự tăng trưởng doanh thu hiện tại sẽ khó tạo ra một nền điện ảnh phát triển bền vững.
Công nghệ có thể làm thay đổi phương thức sản xuất, nhưng giá trị nghệ thuật của một tác phẩm điện ảnh vẫn bắt đầu và kết thúc từ tư duy, cảm xúc của con người. Bảo vệ điện ảnh Việt Nam trong thời đại AI, vì vậy, chính là bảo vệ toàn bộ chuỗi giá trị sáng tạo và bản sắc văn hóa của dân tộc.
Các tổ chức quản lý tập thể quyền về điện ảnh và âm nhạc tại Việt Nam cần chủ động xây dựng các gói dữ liệu sạch (đầy đủ bản quyền) của phim Việt để chào bán cho các doanh nghiệp phát triển AI.
Cơ chế này vừa tạo ra nguồn doanh thu mới bền vững cho các nhà làm phim, vừa giúp các công ty công nghệ có nguồn dữ liệu huấn luyện hợp pháp, phù hợp với thuần phong mỹ tục và pháp luật Việt Nam.
ThS PHẠM THỊ KIM OANH, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả

