Phố cổ Hội An và nỗi lo mất dần hơi thở thị dân

Tại tọa đàm khoa học 'Công tác nghiên cứu khoa học về Đô thị cổ Hội An trong bối cảnh hiện nay', nhiều chuyên gia đã cùng nhìn lại hành trình hơn 40 năm nghiên cứu, bảo tồn di sản Hội An, đồng thời đặt ra một câu hỏi lớn cho tương lai: Làm sao để đô thị di sản này vẫn giữ được 'tâm hồn sống' giữa áp lực thương mại hóa, biến đổi khí hậu và những biến chuyển của đời sống hiện đại?

Sáng 27.5.2026, tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An, cuộc tọa đàm khoa học “Công tác nghiên cứu khoa học về Đô thị cổ Hội An trong bối cảnh hiện nay” diễn ra như một cuộc đối thoại nhiều suy tư về tương lai của đô thị di sản nổi tiếng này. Không khí hội thảo không nặng tính báo cáo học thuật mà đầy những trăn trở của giới nghiên cứu trước câu hỏi: Làm sao để một “đô thị di sản sống” như Hội An vừa giữ được bản thể nguyên vẹn, vừa không bị đông cứng giữa nhịp chuyển động quá nhanh của xã hội hiện đại?

Toàn cảnh buổi tọa đàm.

Toàn cảnh buổi tọa đàm.

Từ “căn cước thương cảng”…

Nhìn lại hành trình hơn 40 năm kể từ Hội thảo khoa học quốc gia năm 1985 và hội thảo quốc tế năm 1990, nhiều chuyên gia cho rằng các nghiên cứu khoa học tại Hội An không đi sau để “vớt vát” quá khứ mà thực sự đóng vai trò mở đường cho công cuộc bảo tồn di sản.

Từ khảo cổ học, dịch thuật Hán Nôm đến phục dựng các giá trị văn hóa phi vật thể như Đêm rằm phố cổ, nghệ thuật diễn xướng hô hát Bài Chòi hay múa Thiên Cẩu…, chính dòng chảy nghiên cứu bền bỉ ấy đã góp phần tạo nên “tấm hộ chiếu” để Hội An bước ra thế giới với danh hiệu Di sản văn hóa thế giới, rồi tiếp tục trở thành Thành phố Sáng tạo toàn cầu của UNESCO.

Tuy nhiên, thành tựu lớn cũng đặt ra một áp lực lớn. ThS. Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng, ví von đầy hình ảnh rằng lớp người nghiên cứu Hội An hôm nay có cảm giác như “đến quá muộn trong một thế giới quá già”. Bởi gần như mọi ngóc ngách kiến trúc, mọi văn bản Hán Nôm, mọi lớp văn hóa dân gian đều đã được khảo cứu qua hàng trăm đề tài trước đó.

Dẫu vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng vẫn còn nhiều “khoảng trống” cần tiếp tục khám phá. TS. Lê Thị Mai, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, gợi mở cách nhìn Hội An như một chỉnh thể cảng thị sông - biển thay vì chỉ bó hẹp trong vùng lõi phố cổ.

Theo bà, sự hưng thịnh của thương cảng Hội An thời Nguyễn gắn chặt với mối liên kết giữa “Phố”, “Biển” và “Nguồn” - tức vùng kinh tế miền thượng du. Những dòng chảy thương mại trên sông Thu Bồn, nguồn Ô Gia hay mạng lưới giao thương thổ sản từng là “mạch máu” nuôi sống đô thị cổ. Nếu chỉ giữ lại phần “vỏ” kiến trúc mà đánh mất kết nối sinh thái - nhân văn ấy, Hội An cũng sẽ dần mất đi căn cước của mình.

Chuyên gia chia sẻ tại tọa đàm.

Chuyên gia chia sẻ tại tọa đàm.

…Đến nỗi lo di sản bị “phẳng hóa”

Một trong những chủ đề được nhắc đến nhiều tại tọa đàm là áp lực thương mại hóa ngày càng rõ nét tại Hội An.

Các chuyên gia cho rằng giá trị lớn nhất của một “đô thị di sản sống” không nằm ở mái ngói âm dương hay khung gỗ cổ kính, mà nằm ở chính cộng đồng cư dân đang sinh sống trong không gian ấy. Đó là tiếng guốc dép vang dưới mái hiên lúc tinh mơ, là khói hương ngày Rằm, mồng Một, là tiếng rao đêm hay nếp sinh hoạt đình, chùa, đền, miếu đã kéo dài qua nhiều thế hệ.

Tuy nhiên, xu hướng “trình diễn hóa” và “thương mại hóa” đang khiến nhiều người lo ngại. Khi cư dân gốc dần rời phố cổ, nhường chỗ cho homestay, cửa hàng lưu niệm và hoạt động kinh doanh dịch vụ, khu phố cổ có nguy cơ trở thành một không gian đẹp nhưng thiếu sinh khí, một “phim trường di sản” nhiều lớp vỏ trình diễn nhưng thiếu chiều sâu ký ức đô thị.

Du khách tham quan phố cổ Hội An. Ảnh: Znews

Du khách tham quan phố cổ Hội An. Ảnh: Znews

Bên cạnh đó là áp lực ngày càng lớn từ thiên tai và biến đổi khí hậu. ThS. Trần Ánh, Chi hội Khoa học Lịch sử Hội An, cho rằng Hội An là một trong những di sản nhạy cảm và dễ tổn thương trước lũ lụt, xói lở bờ sông và nước biển dâng.

Theo ông, khoa học bảo tồn hiện nay không thể chỉ dừng ở việc tra cứu thư tịch cổ mà phải giải quyết bài toán “bảo tồn thích ứng”: vừa giữ được tính xác thực của kiến trúc, vừa tăng khả năng chống chịu của vật liệu trước những mùa mưa lũ và xâm nhập mặn ngày càng khắc nghiệt.

Tương lai nào cho đô thị di sản sống?

Từ những vấn đề đặt ra, tọa đàm cũng gợi mở nhiều hướng tiếp cận mới cho công tác bảo tồn Hội An.

Trong đó, số hóa di sản được xem là giải pháp cấp thiết. Việc ứng dụng công nghệ quét 3D, GIS hay cơ sở dữ liệu số không chỉ giúp lưu trữ thông tin kiến trúc mà còn có thể bảo tồn cả ký ức văn hóa phi vật thể, lịch sử dòng họ, bang hội và đời sống cộng đồng.

Du khách nước ngoài trải nghiệm trồng rau cùng người dân Trà Quế trong lễ hội Cầu Bông. Ảnh: Quốc Tuấn

Du khách nước ngoài trải nghiệm trồng rau cùng người dân Trà Quế trong lễ hội Cầu Bông. Ảnh: Quốc Tuấn

Bên cạnh đó là tư duy quản trị theo hướng sinh thái - nhân văn, gắn phố cổ Hội An với Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm như một chỉnh thể thống nhất.

Nhiều ý kiến cũng nhấn mạnh rằng mọi chính sách bảo tồn sẽ khó bền vững nếu cộng đồng cư dân không thực sự trở thành chủ thể của di sản. Khi người dân hiểu rõ giá trị của từng ngôi nhà, từng nếp sinh hoạt mình đang gìn giữ, họ mới có thể tham gia vào chuỗi kinh tế di sản một cách tự nguyện và văn minh.

Buổi tọa đàm khép lại trong cái nắng đầu hạ phủ lên những mái ngói âm dương bên sông Hoài. Nhưng câu chuyện về Hội An dường như vẫn còn mở ra phía trước, như chính mong muốn của những người gắn bó cả đời với đô thị này: giữ cho Hội An không chỉ còn một “hình hài di sản”, mà vẫn là một đô thị sống, có ký ức, có hơi thở và có linh hồn trong đời sống hiện đại.

Khiếu Thị Hoài

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/pho-co-hoi-an-va-noi-lo-mat-dan-hoi-tho-thi-dan-52866.html