Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng làm rõ cơ chế bồi thường, hỗ trợ sinh kế khi thu hồi khu vực biển
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) sẽ làm rõ căn cứ bồi thường, hỗ trợ sinh kế, chuyển đổi nghề, bảo đảm quyền lợi người dân khi thu hồi khu vực biển.
Quốc hội Khóa XVI
Chiều 6/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Thừa ủy quyền của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thay mặt Chính phủ báo cáo tiếp thu, giải trình về một số ý kiến các đại biểu nêu.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng. Ảnh: QH
Hỗ trợ sinh kế khi thu hồi khu vực biển
Theo Phó Thủ tướng, tiếp thu ý kiến các đại biểu, Chính phủ đã chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến quyền tài sản, giao dịch, chế độ tài chính, thu hồi, bồi thường và hỗ trợ.
Dự thảo Luật làm rõ căn cứ thu hồi khu vực biển, quyền lợi của người sử dụng, đồng thời xác định cụ thể quyền sử dụng, nghĩa vụ tài chính, tài sản và các chi phí hợp pháp làm cơ sở xem xét bồi thường.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh việc phân biệt bồi thường khi thu hồi với hỗ trợ sinh kế và trách nhiệm của nhà nước, hỗ trợ chuyển đổi nghề phải gắn với điều kiện sản xuất, việc làm và thu nhập, nhất là đối với cộng đồng dễ bị tổn thương.
Đáng chú ý, Chính phủ cũng quy định bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân, trong đó có việc bố trí lối đi và không gian công cộng ven biển. Đây là những nội dung nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân trong quá trình quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển.
Bên cạnh đó, Chính phủ chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện quy định về quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp phù hợp với hình thức sử dụng và điều kiện của từng đối tượng.
Lấy quy hoạch không gian biển để điều phối phát triển
Đối với công tác quản lý tổng hợp, quy hoạch và điều phối sử dụng không gian biển, Chính phủ đã chỉ đạo hoàn thiện cơ chế theo hướng rõ đầu mối, trách nhiệm và thẩm quyền quyết định; lấy quy hoạch không gian biển quốc gia làm công cụ quản lý, điều phối phát triển.
Việc phân cấp, phân quyền phải gắn với nguồn lực, năng lực thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát, không để phối hợp liên ngành dẫn đến phân tán trách nhiệm.
Dự thảo Luật đã rà soát, thể chế hóa các quan điểm của Nghị quyết 20 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đổi mới quản lý biển theo hướng tổng hợp, thống nhất, khơi thông nguồn lực, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia.
Đối với hoạt động cho thuê, đăng ký và đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, các quy định được thiết kế phù hợp với đặc điểm từng vùng biển, bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.
Quyền sử dụng khu vực biển được xác định theo phạm vi, thời hạn, mục đích và điều kiện cụ thể, có tính đến độ sâu, độ cao.
Việc sử dụng chung, đa mục đích phải bảo đảm an toàn, bảo vệ môi trường và quyền của các chủ thể.
“Đơn giá phải công khai, cạnh tranh, thực chất; lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm, xác định rõ nghĩa vụ tài chính, tránh lợi dụng thủ tục để trục lợi”- Phó Thủ tướng nhấn mạnh.
Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường
Theo Phó Thủ tướng, về phát triển kinh tế biển, Dự thảo xác định chính sách ưu đãi, hỗ trợ có trọng tâm, rõ đối tượng, điều kiện, thời hạn và kết quả, phù hợp với nguồn lực, tránh trùng lặp.
Việc thử nghiệm mô hình, công nghệ mới phải xác định rõ phạm vi, thời gian, tiêu chí đánh giá, điều kiện dừng và trách nhiệm ứng phó, khắc phục, bồi thường.
Hệ thống dữ liệu biển phải thống nhất, kết nối, chia sẻ, tránh trùng lặp và yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có; bảo đảm quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước và quyền tiếp cận thông tin theo quy định pháp luật.
Đối với quản lý vùng bờ và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, Chính phủ xác định phát triển phải phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, gắn với bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái, hài hòa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.
Về điều khoản chuyển tiếp và điều kiện thi hành luật, các cá nhân đang nuôi trồng thủy sản nhưng chưa được giao khu vực biển, việc giải quyết phải gắn với hiện trạng, phương án sắp xếp, nghĩa vụ tài chính và hỗ trợ sinh kế.
Lộ trình áp dụng cần đồng bộ với pháp luật liên quan và điều kiện thực tế, bảo đảm có đủ hướng dẫn, nguồn lực và dữ liệu để triển khai thống nhất, hiệu quả.
Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo Bộ NN&MT phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội hoàn thiện dự thảo Luật để trình Quốc hội xem xét, thông qua; đồng thời chuẩn bị đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân.
