Phong cách dân vận Hồ Chí Minh với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận ở đơn vị cơ sở trong Quân đội hiện nay
Phong cách dân vận Hồ Chí Minh là tổng hòa những cách thức, phương pháp, mang những giá trị đặc trưng riêng có thuộc về trí tuệ, đạo đức, nhân cách của người, mang tính ổn định nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng, đóng góp vào sự ổn định dư luận và định hướng, điều chỉnh nhận thức của mọi người về công tác dân vận và hiện thực hóa các giá trị đó trên thực tế, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác dân vận của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu phối hợp với các lực lượng, chính quyền địa phương hỗ trợ người già, phụ nữ và trẻ em xã Mường Than, tỉnh Lai Châu lên xe quân sự, sơ tán khỏi khu vực có nguy cơ xảy ra sạt lở, lũ quét. Ảnh: Văn Hợi
Phong cách dân vận Hồ Chí Minh được xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân: “Đảng phải gắn bó chặt chẽ với quần chúng, kiên quyết đấu tranh để ngăn ngừa và khắc phục bệnh quan liêu xa rời quần chúng”. Khi bàn về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, là người làm ra mọi của cải vật chất cho xã hội vì vậy xã hội phát triển nhanh hay chậm đều phụ thuộc vào quần chúng nhân dân lao động họ có được giác ngộ và hành động đúng hay không...
Phong cách ấy còn được hình thành và phát triển từ truyền thống đánh giặc, giữ nước của dân tộc. Đó là truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung và tư tưởng “lấy dân làm gốc” của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước: Truyền thống đoàn kết, anh dũng trong lao động sản xuất, phòng chống thiên tai, bão lũ; trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc là yếu tố quyết định sự thành công, ổn định và hưng thịnh của đất nước. Tinh thần nhân nghĩa còn là giá trị đạo đức cốt lõi trong văn hóa Việt Nam, đó là tinh thần vị tha, sự quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng. Nhân nghĩa không chỉ là chuẩn mực đạo đức cá nhân mà còn là nguyên tắc ứng xử trong xã hội và phương châm trị quốc của các triều đại phong kiến tiến bộ trong lịch sử; đó là tư tưởng khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc; chăm lo đời sống nhân dân và hạn chế sự hà khắc trong cai trị.
Trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng từ khi có Đảng và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định nhân dân là chủ nhân của đất nước, là gốc rễ của nước nhà; vì vậy, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xây dựng nhà nước của nhân dân, đồng thời hướng tới phục vụ nhân dân. Người chỉ rõ: “Việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”, quan điểm “lấy dân làm gốc” không chỉ định hướng lập trường, thái độ của đội ngũ cán bộ đối với nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác dân vận trong thực tiễn.
Theo Bác: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”, Người còn nói: “Làm việc gì cũng phải có quần chúng, quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở lên dễ dàng và làm tốt được; dễ mười lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” . Người xác định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” .
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò của quần chúng và công tác vận động quần chúng, luôn dựa vào dân, lấy dân làm gốc, do đó đã phát huy được sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân để giành thắng lợi. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, cán bộ làm dân vận trước hết phải: “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, nghĩa là phải luôn suy nghĩ cho dân, nhìn vào đời sống thực tế của dân, lắng nghe ý kiến của dân, trực tiếp đi cơ sở, nói cho dân hiểu và cùng dân hành động. Người phê phán gay gắt bệnh quan liêu, xa dân, “chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”, coi đó là nguyên nhân làm giảm sút niềm tin của nhân dân. Bản thân Người luôn nêu gương về lối sống giản dị, gần gũi, chân thành, tôn trọng nhân dân, từ đó tạo nên uy tín và sức thuyết phục lớn lao của phong cách dân vận Hồ Chí Minh.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đăk Blô (Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi) giúp dân gặt lúa. Ảnh: Văn Tánh
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay luôn nắm vững và thực hiện tốt nguyên tắc này trong xây dựng Đảng, nhờ đó đã tạo nên sức mạnh của cả dân tộc đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Ngày nay trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, bên cạnh những thuận lợi là những khó khăn, thử thách mới, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, đòi hỏi sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ an ninh chính trị đất nước... Đại hội XIV đã phát triển nhận thức lý luận về công tác dân vận và xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân: Khẳng định “Dân là gốc”, là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới đất nước, của công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Khẳng định Quân đội là lực lượng lòng cốt trong tiến hành công tác dân vận của Đảng. Vì vậy, vấn đề nâng cao hơn nữa chất lượng công tác dân vận trong toàn quân nói chung, ở đơn vị cơ sở nói riêng là một vấn đề tất yếu, nhằm tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; giáo dục bộ đội chấp hành nghiêm kỷ luật quan hệ quân dân, giúp dân trong sản xuất và đời sống, bảo vệ nhân dân. Đó vừa là chức năng, nhiệm vụ cơ bản xuyên suốt trong mọi thời kỳ, mọi giai đoạn, vừa là trách nhiệm của Quân đội đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Những nội dung, biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tác dân vận của đơn vị cơ sở quân đội trong tình hình hiện nay
Một là, thường xuyên giáo dục và quản lý cán bộ, chiến sĩ giữ nghiêm kỷ luật quan hệ quân dân. Đây là điều kiện để gây lòng tin yêu của nhân dân, là cơ sở để tiếp xúc với nhân dân, tuyên truyền vận động nhân dân... Vì vậy, cần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ chuyển biến về tư tưởng, nhận thức và hành động, xây dựng ý thức tự giác, trách nhiệm quân nhân trong việc chấp hành kỷ luật dân vận, khi tiếp xúc với nhân dân, quan hệ với nhân dân; tích cực quản lý, duy trì cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và giáo dục họ luôn có ý thức tôn trọng và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, tôn trọng, bảo vệ và chấp hành nghiêm mọi quy định của địa phương; thực hiện nghiêm điều lệnh, điều lệ quân đội, 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân. Đồng thời tích cực đấu tranh ngăn ngừa những hành động vi phạm kỷ luật quan hệ quân dân như: Thiếu tôn trọng nhân dân, coi thường nhân dân, không chấp hành đúng các quy định của địa phương, kỷ luật của quân đội, pháp luật Nhà nước...

Đồn Biên phòng Lạc Quới (Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang) đến thăm, chúc mừng Ban Trị sự Trung ương Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa (ấp An Định A, xã Ba Chúc, tỉnh An Giang) nhân Đại lễ Tam hợp - Ngày Đản sinh Đức Bổn sư, Ngày Đức Bổn sư thành đạo và Ngày Khai sáng đạo Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (tháng 6/2026). Ảnh: Huy Hoàng
Hai là, động viên, tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc ít người và vùng đồng bào có đạo.
Nội dung tuyên truyền vận động nhân dân phải lấy quan điểm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước làm nội dung cơ bản, coi trọng cả việc tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế-xã hội ở địa phương... làm cho nhân dân kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ công dân, làm cho dân hiểu rõ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”, “Bạo loạn lật đổ”, vận động nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng, tích cực tham gia vào các nhiệm vụ, phát triển sản xuất, ổn định đời sống, xây dựng nếp sống văn hoá mới, tuyên truyền bản chất truyền thống của quân đội, đơn vị, vận động nhân dân đóng góp sức người, sức của cho sự xây dựng lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, giúp đỡ bộ đội, thực chính sách hậu phương quân đội... ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng tôn giáo, nội dung tuyên truyền vận động hướng vào nâng cao trình độ nhận thức, giác ngộ chính trị, gắn lợi ích bản thân, bộ phận với mục tiêu lý tưởng của Đảng và lợi ích dân tộc.
Ba là, phát huy vai trò các tổ chức để nâng cao hiệu quả công tác dân vận. Nhằm phát huy sức mạnh của các lực lượng tham gia tiến hành công tác dân vận có hiệu quả cao và là trách nhiệm của các tổ chức các lực lượng trong đơn vị tiến hành công tác dân vận trên địa bàn đóng quân.
Thường xuyên nắm chắc tình hình đơn vị, tình hình đặc điểm địa phương, các chỉ thị hướng dẫn của trên về công tác dân vận để xây dựng chủ trương, biện pháp lãnh đạo công tác dân vận sát đúng; tiến hành tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết, tích cực kiểm tra đôn đốc quá trình thực hiện, kịp thời sơ tổng kết rút kinh nghiệm tiếp tục bổ sung nội dung, biện pháp lãnh đạo cho phù hợp. Động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia, nâng cao ý thức trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong hướng dẫn bộ đội và trực tiếp tiến hành làm công tác dân vận. Lãnh đạo tốt việc giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, phương pháp tuyên truyền vận động nhân dân, tổ chức lực lượng của đơn vị, phối hợp chặt chẽ với địa phương tiến hành công tác dân vận.
Thường xuyên hướng dẫn chỉ đạo đoàn thanh niên đôi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền vận động nhân dân nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị với tiến hành công tác dân vận trong mọi hoạt động của đoàn thanh niên, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện để có điều kiện làm tốt công tác dân vận và là cơ sở để giáo dục đoàn viên thanh niên trong đơn vị.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An hỗ trợ xây dựng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp tại xã biên giới. Ảnh: Lê Thạch
Bốn là, tham gia xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng địa bàn đóng quân vững mạnh. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay. Cơ sở địa phương là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; nơi trực tiếp đấu tranh giữa lực lượng cách mạng đối với bọn phản cách mạng và âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá ta bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”. Vì vậy xây dựng cơ sở chính trị, địa bàn đóng quân vững mạnh là một nhiệm vụ trọng tâm, một nội dung hoạt động quan trọng, thường xuyên của quân đội ta và mỗi đơn vị. Tham gia xây dựng tổ chức chính quyền, phát huy vai trò quản lý, điều hành ở cơ sở, giúp chính quyền địa phương thực hiện nguyên tắc làm việc tập trung, nâng cao năng lực quản lý điều hành các mặt hoạt động ở địa phương, bồi dưỡng nguồn cán bộ theo yêu cầu của địa phương, giúp đỡ xây dựng mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, quân đội và nhân dân...
Năm là, đa dạng hoá các nội dung, hình thức, biện pháp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận.
Trong tình hình mới, đối tượng, địa bàn và tính chất hoạt động ở cơ sở phát triển đa dạng và phức tạp, công tác dân vận ở các đơn vị cơ sở trong quân đội ta phải vận dụng và phát triển các nội dung, hình thức, biện pháp dân vận sao cho có hiệu quả với từng đối tượng, từng địa bàn và với từng loại hình đơn vị lực lượng vũ trang. Đặc biệt là thực hiện nhiều nội dung, hình thức khác nhau, giành nhiều thời gian tổ chức cho bộ đội làm công tác dân vận theo chỉ lệnh huấn luyện hàng năm.
Sáu là, tích cực bồi dưỡng phẩm chất, năng lực nghiệp vụ công tác dân vận cho cán bộ, chiến sĩ; coi trọng đào tạo nguồn cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở và lực lượng nòng cốt là người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo. Bố trí cấp ủy viên của đảng uỷ, chi bộ phụ trách công tác dân vận; bảo đảm chế độ chính sách thích hợp cho cán bộ tăng cường cho cơ sở; thường xuyên làm tốt công tác sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác dân vận, phát hiện và nhân rộng điển hình công tác dân vận, tăng cường kinh phí, vật tư, phương tiện bảo đảm cho hoạt động công tác dân vận...
Đại tá, ThS Hoàng Thành Hậu, Khoa Triết học Mác - Lênin, Học viện Chính trị
-------------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay (2013), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
Đảng ủy quân sự Trung ương (2009), Điều lệ công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009.
Lê Thị Anh Đào (2018), “Vai trò của công tác dân vận từ thực tiễn xử lý điểm nóng chính trị - xã hội”, Tạp chí Khoa học Chính trị, số 6, tr.48-51.
Phạm Văn Dũng (2025), Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và sự vận dụng ở địa bàn Quân khu 3 hiện nay, Tạp chí Quản lý Nhà nước điện tử, ngày 11/12/2025.
Trần Hậu (2013), “Minh triết Hồ Chí Minh về dân, dân vận và đại đoàn kết toàn dân tộc”, Triết học, số 2, tr. 18-25; số 3, tr.12-21.
Nguyễn Đình Hòa (2015), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Triết học, số 8, tr.12-16.
V.I.Lênin toàn tập, tập 39, “Nhà nước của công nhân và tuần lễ đảng” (1919), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.255-259










![[Ảnh] Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp một số trí thức, nhà khoa học tiêu biểu người Việt tại Australia](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_08_10_14_55802506/4fe8c1eb85a06cfe35b1.jpg)
