Phòng, chống lãng phí tài sản công trong quản lý của UBND cấp tỉnh: Thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện từ góc nhìn quản lý kinh tế – hành chính
Trong quản trị quốc gia hiện đại, tài sản công không chỉ là nguồn lực vật chất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý mà còn là chỉ báo trực tiếp phản ánh năng lực điều hành, hiệu lực thực thi pháp luật và mức độ liêm chính của bộ máy công quyền. Một trụ sở bỏ hoang, một khu đất công bị sử dụng sai mục đích hay một dự án đầu tư công chậm tiến độ kéo dài không chỉ gây thất thoát ngân sách mà còn làm suy giảm niềm tin xã hội và bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Hàng loạt dự án có quy mô lớn trên địa bàn huyện Mê Linh (Hà Nội) bị bỏ hoang, chưa thực sự khởi động xây dựng sau nhiều năm được giao đất, gây lãng phí tài nguyên đất đai. Ảnh: Mạnh Khánh/TTXVN
Quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương hai cấp làm khối lượng và cơ cấu tài sản công tại các địa phương biến động mạnh mẽ. Hàng nghìn trụ sở, cơ sở nhà đất dôi dư phát sinh sau sáp nhập đã đặt ra một yêu cầu mang tính hệ thống: phải chuyển từ “xử lý hành chính tài sản” sang “quản trị tài sản như một nguồn lực phát triển”.
Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành – với nền tảng là Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 – đã tạo hành lang tương đối đầy đủ, song thực tiễn cho thấy khoảng cách giữa quy định và tổ chức thực hiện vẫn còn đáng kể, đặc biệt ở cấp tỉnh – cấp trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm đối với phần lớn tài sản công.
Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về phòng, chống lãng phí tài sản công là cơ sở nhận diện các “điểm nghẽn quản trị”, qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi.
Thực tiễn và những vấn đề đặt ra từ các vùng kinh tế – hành chính
Thực tiễn giai đoạn 2024–2026 cho thấy một nghịch lý đáng chú ý trong quản lý tài sản công tại cấp tỉnh: trong khi khung pháp lý ngày càng hoàn thiện và áp lực xử lý ngày càng cao thì hiệu quả khai thác tài sản lại chưa tương xứng. Đến cuối năm 2024 cả nước có khoảng 11.034 cơ sở nhà đất công không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả nhưng mới xử lý được khoảng 3.780 cơ sở. Bước sang giai đoạn 2025–2026 mặc dù tiến độ sắp xếp được đẩy nhanh với hơn 21.000 cơ sở được rà soát và xử lý song phần lớn kết quả mới dừng ở cấp độ thủ tục chưa chuyển hóa đầy đủ thành hiệu quả sử dụng thực tế.
Nếu nhìn theo không gian vùng có thể thấy sự khác biệt rõ rệt trong biểu hiện lãng phí, qua đó phản ánh bản chất vấn đề không nằm ở quy mô tài sản mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện.
Ở khu vực phía Bắc đặc trưng nổi bật là độ lệch giữa quyết định hành chính và hiệu quả khai thác. Nhiều địa phương đã hoàn thành việc sắp xếp trên hồ sơ nhưng việc đưa tài sản vào sử dụng thực tế còn chậm. Tại Hà Nội nhiều cơ sở đã có phương án xử lý nhưng chưa được chuyển đổi công năng trong khi nhu cầu về trường học cơ sở y tế và không gian công cộng luôn ở mức cao. Tại Phú Thọ sau hợp nhất địa giới hành chính số lượng tài sản dôi dư lớn nhưng quá trình xác định phương án sử dụng kéo dài, có thời điểm hơn 1.000 cơ sở chưa có định hướng cụ thể. Ngay cả khi đã xử lý được một phần khối lượng tồn đọng vẫn đáng kể cho thấy hạn chế nằm ở khâu tổ chức thực hiện hơn là thiếu cơ chế pháp lý.
Ở khu vực miền Trung lãng phí không chỉ biểu hiện ở tài sản không sử dụng mà còn ở tài sản chậm được đưa vào sử dụng. Điểm nghẽn chủ yếu nằm ở độ trễ trong khai thác và điều phối. Tại Đà Nẵng nhiều khu đất có vị trí thuận lợi vẫn kéo dài tình trạng chưa đưa vào sử dụng, các dự án chậm triển khai qua nhiều năm làm giảm hiệu quả sử dụng đất công. Trong khi đó tại Thanh Hóa tình trạng trụ sở dôi dư bị bỏ hoang diễn ra song song với việc một số đơn vị thiếu cơ sở làm việc. Sự tồn tại đồng thời của thừa và thiếu trong cùng một địa bàn cho thấy vấn đề không nằm ở số lượng tài sản mà ở cơ chế phân bổ chưa hợp lý.
Ở khu vực phía Nam quy mô tài sản lớn làm nổi bật chi phí cơ hội của lãng phí. Tại Cà Mau hàng trăm cơ sở dôi dư cùng với hàng trăm hecta đất công chưa đưa vào sử dụng trong đó có diện tích bị lấn chiếm cho thấy tài sản không chỉ bị bỏ trống mà còn bị suy giảm giá trị theo thời gian. Trong lĩnh vực đầu tư công các dự án chậm tiến độ với tổng vốn lớn phản ánh lãng phí ở cấp độ dòng tiền. Tại Thành phố Hồ Chí Minh dù quỹ nhà đất công rất lớn nhưng vẫn còn nhiều cơ sở chưa được khai thác hiệu quả trong khi nhu cầu phát triển hạ tầng luôn ở mức cao cho thấy nguồn lực chưa được chuyển hóa thành động lực phát triển.
Từ đối chiếu ba khu vực có thể nhận diện một cấu trúc chung của lãng phí tài sản công hiện nay. Ở phía Bắc là lãng phí do chậm đưa tài sản vào sử dụng sau khi đã có quyết định. Ở miền Trung là lãng phí do độ trễ kéo dài trong khai thác và phân bổ. Ở phía Nam là lãng phí do không tận dụng được quy mô tài sản và làm gia tăng chi phí cơ hội. Dù biểu hiện khác nhau điểm chung là khoảng cách giữa xử lý hành chính và hiệu quả thực tế.
Khoảng cách này cho thấy vấn đề cốt lõi không còn nằm ở việc thiếu quy định pháp luật mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện, ở khả năng điều phối tài sản và ở trách nhiệm của chủ thể quản lý. Khi việc sắp xếp chỉ dừng ở hoàn tất thủ tục mà chưa gắn với khai thác hiệu quả thì lãng phí không bị loại bỏ mà chỉ chuyển từ trạng thái bỏ hoang sang tồn tại hình thức.
Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
Từ thực tiễn có thể thấy yêu cầu đặt ra không còn là hoàn thiện quy định mà là nâng cao năng lực thực thi và trách nhiệm quản trị. Giải pháp vì vậy cần tập trung trực tiếp vào các điểm nghẽn đã bộc lộ.
Trước hết cần chuyển trọng tâm từ xử lý hành chính sang đưa tài sản vào sử dụng thực tế. Việc sắp xếp tài sản công chỉ được coi là hoàn thành khi tài sản đã được khai thác với mục đích cụ thể. Cần gắn mỗi phương án xử lý với thời hạn đưa vào sử dụng và công khai tiến độ thực hiện nhằm khắc phục tình trạng hoàn thành trên giấy nhưng chưa có hiệu quả thực tế.
Tiếp đó cần hình thành cơ chế điều phối tài sản công ở cấp tỉnh theo hướng tập trung. Thay vì để từng cơ quan quản lý khép kín cần cho phép điều chuyển tài sản giữa các đơn vị theo nhu cầu sử dụng thực tế. Cơ chế này sẽ trực tiếp khắc phục tình trạng thừa và thiếu tồn tại song song trong cùng một địa bàn.
Đồng thời cần rút ngắn độ trễ trong khai thác tài sản thông qua cải cách quy trình. Đối với tài sản dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính cần có cơ chế phê duyệt nhanh đối với các mục đích sử dụng phục vụ lợi ích công như giáo dục y tế và văn hóa nhằm đưa tài sản vào sử dụng kịp thời.
Một giải pháp có tính quyết định là gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả sử dụng tài sản công. Người đứng đầu cơ quan đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu tài sản thuộc phạm vi quản lý bị bỏ hoang hoặc chậm khai thác. Hiệu quả sử dụng tài sản cần được đưa vào tiêu chí đánh giá năng lực quản trị nhằm tạo động lực thực chất trong tổ chức thực hiện.
Cùng với đó cần tăng cường minh bạch và giám sát xã hội. Việc công khai dữ liệu tài sản công về hiện trạng phương án xử lý và tiến độ sử dụng sẽ tạo áp lực buộc các cơ quan quản lý phải hành động hiệu quả hơn và hạn chế tình trạng tài sản tồn tại hình thức.
Cuối cùng cần chuyển đổi tư duy quản lý từ giữ tài sản sang khai thác tài sản coi tài sản công là nguồn lực phát triển. Việc sử dụng tài sản cần gắn trực tiếp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương thay vì chỉ dừng ở bảo toàn hình thức. Hiệu quả thực hiện pháp luật về tài sản công vì vậy không còn là vấn đề hoàn thiện quy định mà là vấn đề năng lực thực thi và trách nhiệm quản trị ở cấp địa phương.
Kết luận
Tài sản công chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được quản trị hiệu quả. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy lãng phí không phải do thiếu tài sản mà do hạn chế trong tổ chức thực hiện và tư duy quản lý. Hiện nay phòng chống lãng phí tài sản công không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là thước đo năng lực điều hành của chính quyền địa phương. Việc chuyển từ quản lý sang khai thác từ bị động sang chủ động sẽ quyết định khả năng biến tài sản công thành nguồn lực phát triển bền vững.
Việc chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy khai thác, từ hoàn thành thủ tục sang tạo ra giá trị sẽ quyết định hiệu quả sử dụng tài sản công. Khi tài sản công được vận hành minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm, nó không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn củng cố niềm tin xã hội và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.
Tài liệu tham khảo
[1] Quốc hội (2017), Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14, Hà Nội.
[2] Quốc hội (2013), Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 44/2013/QH13, Hà Nội.
[3] Quốc hội (2018), Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14, Hà Nội.
[4] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Văn bản hợp nhất số 97/VBHN-VPQH về Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Hà Nội.
[5] Chính phủ (2025), Nghị định số 186/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Hà Nội.
[6] Thủ tướng Chính phủ (2026), Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 26/02/2026 về tăng cường xử lý, khai thác tài sản công sau sắp xếp tổ chức bộ máy, Hà Nội.
[7] Bộ Tài chính (2025), Báo cáo tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng và xử lý tài sản công năm 2024–2025, Hà Nội.
[8] Thanh tra Chính phủ (2025), Báo cáo công tác thanh tra, kiểm tra quản lý tài sản công và phòng, chống lãng phí, Hà Nội.
[9] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
[10] Bộ Chính trị (2024), Quy định số 191-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
[11] Vũ Việt Hà (2025), “Phòng, chống lãng phí tài sản công trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy”, Tạp chí Quản lý nhà nước.
[12] Phạm Văn Phong (2025), “Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý tài sản công”, Tạp chí Cộng sản.
[13] Báo Nhân Dân (2025), “Dứt điểm xử lý tài sản công dôi dư sau sáp nhập”, đăng trên nhandan.vn.
[14] Bộ Tài chính (2025), Công văn số 18430/BTC-QLCS về sắp xếp, xử lý tài sản công dôi dư, Hà Nội.











