Phóng viên chiến trường: Những chứng nhân cảm tử

Có một nghịch lý đã đi cùng lịch sử nhân loại suốt hơn một thế kỷ. Khi tiếng bom đạn cùng thanh âm la hét vang lên và những thành phố chìm trong khói lửa, giữa dòng người chạy về phía sự sống thì lại có một số ít người đi ngược lại, tiến thẳng vào trung tâm của cái chết. Đó chính là các nhà báo và phóng viên chiến trường.

Giữa vòng vây

Tháng Hai năm 2022, khi quân đội Nga siết chặt vòng vây quanh thành phố cảng Mariupol của Ukraine, gần như toàn bộ phóng viên quốc tế đã kịp rời đi trước khi những đường dây liên lạc cuối cùng bị cắt đứt. Chỉ còn lại một nhóm nhỏ của hãng thông tấn AP (Associated Press), gồm nhà quay phim Mstyslav Chernov, nhiếp ảnh gia Evgeniy Maloletka và nhà sản xuất Vasilisa Stepanenko.

Họ tìm chỗ trú ẩn cho từng đợt công kích của quân đội Nga, chui xuống gầm cầu thang một cửa hàng tạp hóa bị cướp phá để bắt sóng, xếp ba chiếc điện thoại cạnh nhau và chia một đoạn video làm ba phần để truyền đi cho nhanh, ngồi thu mình bên một miệng hố bom để dò tín hiệu vệ tinh.

Nhóm nhà báo/phóng viên thực hiện bộ phim tài liệu 20 Days at Mariupol tại LHP Sundance 2023. Từ trái sang phải: nhiếp ảnh gia Evgeniy Maloletka, nhà sản xuất và biên tập viên Michelle Mizner, đạo diễn Mstyslav Chernov và nhà sản xuất tại hiện trường Vasilisa Stepanenko Nguồn: AP Photo/Taylor Jewell.

Nhóm nhà báo/phóng viên thực hiện bộ phim tài liệu 20 Days at Mariupol tại LHP Sundance 2023. Từ trái sang phải: nhiếp ảnh gia Evgeniy Maloletka, nhà sản xuất và biên tập viên Michelle Mizner, đạo diễn Mstyslav Chernov và nhà sản xuất tại hiện trường Vasilisa Stepanenko Nguồn: AP Photo/Taylor Jewell.

Bộ phim tài liệu 20 Days in Mariupol (20 ngày ở Mariupol) của Mstyslav Chernov và các cộng sự sau đó đã giành hàng loạt giải thưởng lớn, như Giải thưởng Pulitzer, giải Phim tài liệu hay nhất tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 96 (2023),…

Điều khiến 20 Days in Mariupol trở thành một tác phẩm đặc biệt không chỉ nằm ở mức độ tàn khốc của hình ảnh, mà ở chỗ nó cho khán giả nhìn thấy chính con người phía sau ống kính. Bộ phim không giấu đi những phản ứng rất đỗi con người và cảm xúc chân thật của người cầm máy, và nhờ thế mà nhân tính hóa cả nghề phóng viên chiến trường.

Cuộc chiến Nga–Ukraine đã được mệnh danh là "cuộc chiến TikTok đầu tiên". Trong những giờ đầu tiên từ tháng 2/2022, các clip mờ nhòe từ điện thoại thường dân, các bài đăng Telegram định vị tọa độ đoàn quân, các chuỗi Tweet ghi nhận đổ nát đã được lan truyền rộng rãi và nhanh chóng hơn mọi bản tin thời sự chính thống. Theo ước tính, đã có đến 2,8 triệu tài liệu số đa dạng thể loại chỉ trong năm đầu tiên của cuộc chiến này.

Nếu mỗi smartphone là một chiếc máy quay, mỗi tài khoản mạng xã hội là một thông tấn xã, thì giá trị của một phóng viên AP chuyên nghiệp nằm ở đâu? 20 Days in Mariupol không phủ nhận rằng báo chí công dân có sức mạnh, trái lại, nhiều thước phim trong tài liệu của Chernov có chất lượng kỹ thuật không hơn video của người quay phim nghiệp dư là bao. Nhưng điều Chernov có là kỹ năng báo chí và sự quyết tâm trụ lại để đưa tin ngay từ tâm bom đạn. Anh có thể vượt qua những cảm xúc tức thời để dựng một bản tin, liên kết các dữ kiện và minh chứng để tạo ra một bản tin hoàn chỉnh - điều mà các đoạn clip đơn lẻ do dân thường quay không làm được. Và quan trọng hơn cả, anh và những đồng nghiệp đã đóng vai trò của những chứng nhân cảm tử.

Tại sao thế giới không có mặt ở đây?

Nếu quay phim Mstyslav Chernov là người trụ lại đến phút cuối để đưa tin về cuộc chiến diễn ra tại đất nước anh sinh ra, thì Marie Colvin, một trong những nữ phóng viên chiến trường nổi bật nhất trong lịch sử báo chí, là hiện thân của một câu hỏi ám ảnh suốt sự nghiệp bà: “Tại sao thế giới không có mặt ở đây?”.

Bức ảnh chụp nhân viên cấp cứu và cảnh sát đang sơ tán thai phụ Iryna Kalinina bị thương do cuộc không kích vào bệnh viện phụ sản tại Mariupol, Ukraine. Ảnh: Evgeniy Maloletka/Associated Press.

Bức ảnh chụp nhân viên cấp cứu và cảnh sát đang sơ tán thai phụ Iryna Kalinina bị thương do cuộc không kích vào bệnh viện phụ sản tại Mariupol, Ukraine. Ảnh: Evgeniy Maloletka/Associated Press.

Trong gần ba thập niên kể từ khi bắt đầu sự nghiệp báo chí, Colvin trở thành một trong những phóng viên chiến trường được kính trọng nhất, có mặt ở hầu hết các điểm nóng đẫm máu của thời đại, từ Chechnya, Kosovo, Sierra Leone cho tới Đông Timor, Iraq, Libya và Syria. Bà có khả năng tiếp cận cả những nhân vật quyền lực bậc nhất, là nhà báo đầu tiên phỏng vấn nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi sau khi Mỹ ném bom dinh thự của ông năm 1986, và nhiều lần trò chuyện với lãnh tụ Palestine Yasser Arafat.

Thế nhưng điều làm nên tên tuổi Colvin chính là việc bà luôn đứng về phía những người yếu thế nhất. Bà soi rọi cái giá của chiến tranh qua nỗi đau của từng cá nhân, một thiếu nữ bị bắn chết khi cố băng qua con hẻm có lính bắn tỉa để kiếm thức ăn, với đôi hoa tai vàng nhỏ xíu và nắm tay còn đang siết chặt một nắm đất trong cơn hấp hối. Chính lối tiếp cận vị nhân sinh ấy mang lại cho nghề báo chí này ý nghĩa cao cả nhất. Năm 1999, khi bà cùng hai nữ đồng nghiệp quyết định ở lại một khu trại tị nạn bị bao vây ở Đông Timor giữa lúc các nhà ngoại giao và phần lớn phóng viên đã sợ hãi bỏ đi. Và chính sự hiện diện của 3 nữ phóng viên này đã giữ lại được mạng sống cho khoảng 1.500 người.

Ngày 16/4/2001, khi tìm đường vào vùng do người Tamil kiểm soát ở Sri Lanka, nơi báo chí bị cấm lui tới và một thảm họa nhân đạo đang diễn ra mà không ai hay biết, bà trúng mảnh lựu đạn của binh lính và mù hẳn mắt trái. Chiếc băng bịt mắt màu đen kể từ đó trở thành biểu tượng của sự thách thức mang tên Colvin.

Nữ phóng viên chiến trường Marie Colvin tại Cairo, Ai Cập. Ảnh: AFP/Getty Images.

Nữ phóng viên chiến trường Marie Colvin tại Cairo, Ai Cập. Ảnh: AFP/Getty Images.

Marie Colvin bị sát hại ngày 22/2/2012 tại Homs, thành phố bị bao vây ở Syria. Bà ngã xuống cùng nhiếp ảnh gia người Pháp Rémi Ochlik, chỉ vài giờ sau khi gửi đi những phóng sự cuối cùng từ tâm điểm cuộc vây hãm.

AI không thể thay thế

Trong số những chân dung về người làm nhân chứng cho lịch sử, ít tác phẩm nào khắc họa trọn vẹn thiên chức ấy bằng bộ phim tài liệu War Photographer của đạo diễn người Thụy Sĩ Christian Frei, ra mắt năm 2001 và được đề cử giải Oscar năm 2002. Nhân vật trung tâm của phim là James Nachtwey, một trong những nhiếp ảnh gia chiến trường vĩ đại nhất trong lịch sử. Điều làm nên sự khác biệt của phim đến từ một sáng kiến kỹ thuật là gắn một chiếc máy quay siêu nhỏ trên thân máy ảnh của Nachtwey. Lần đầu tiên trong lịch sử phim tài liệu về nhiếp ảnh, khán giả được nhìn cuộc chiến đúng từ điểm nhìn của người bấm máy, được nghe cả nhịp thở của ông trong khoảnh khắc ông áp sát nỗi đau con người để lưu lại lịch sử.

Hành trình của Nachtwey trải dài gần nửa thế kỷ. Sinh năm 1948 tại Mỹ, ông đến với nhiếp ảnh từ chính những bức ảnh thời chiến tranh Việt Nam và có mặt ở hầu hết những điểm nóng đẫm máu nhất của thời đại.

Nachtwey tin rằng nếu chiến tranh là nỗ lực phủ nhận nhân tính, thì nhiếp ảnh có thể là điều ngược lại, một liều thuốc giải. Với ông, mỗi bức ảnh tố cáo sự tàn bạo là một lời nhắc rằng những điều ấy không bao giờ được phép lặp lại.

Nhiếp ảnh gia chiến trường James Nachtwey tác nghiệp giữa một trận chiến băng đảng tại Thokoza, ngày 18/4/1994. Ảnh: David Turnley.

Nhiếp ảnh gia chiến trường James Nachtwey tác nghiệp giữa một trận chiến băng đảng tại Thokoza, ngày 18/4/1994. Ảnh: David Turnley.

Năm 2003, Nachtwey bị thương trong một vụ tấn công bằng lựu đạn nhằm vào đoàn xe của ông ở Baghdad. Nhưng không phải vết thương nào cũng có thể nhìn thấy. Đằng sau ống kính, người làm chứng đánh đổi cả sức khỏe tinh thần của mình, bởi rối loạn căng thẳng hậu sang chấn là cái giá thường trực của nghề này. Trường hợp bi thảm của nhiếp ảnh gia Kevin Carter, người đã chọn cách kết liễu đời mình dưới sức nặng của những tội ác chiến tranh mà bản thân từng chứng kiến, là lời nhắc rằng những vết thương tâm lý ấy sẽ không bao giờ lành hẳn.

Một video đưa tin bệnh viện phụ sản bị ném bom có thể lan truyền trên TikTok một thời gian ngắn rồi bị nhấn chìm bởi nguồn nội dung ngắn vô hạn trên internet. Song, một bộ phim tài liệu 96 phút như 20 Days in Mariupol buộc người xem ngồi yên và đối diện với từng đứa trẻ tử nạn, từng gương mặt sầu thảm và tiếng khóc thương ai oán của dân thường trong vùng chiến sự.

Câu chuyện về những phóng viên làm chứng nhân lịch sử giữa tên rơi đạn lạc có những bi kịch không ngờ. Samar Abu Elouf, nữ phóng viên ảnh người Palestine đã hơn mười năm tác nghiệp tại Gaza. Vì thiếu thiết bị bảo hộ, Samar tự chế một chiếc mũ bảo hiểm từ chiếc nồi nấu ăn và một chiếc áo từ túi ni lông màu xanh, rồi viết lên đó hai chữ TV và press để được nhận diện là nhà báo và có quyền được bảo vệ. Một thói quen mỗi lúc tác nghiệp của cô, đó là khi chụp ảnh một đứa trẻ đã chết, cô sẽ kiểm tra xem đó có phải con của chính mình hay không! Là người mẹ của bốn đứa con, Samar liên tục rơi nước mắt mỗi khi lưu lại hình ảnh những nạn nhân trạc tuổi con mình.

Đặt những câu chuyện này cạnh nhau, ta thấy hiện lên một sợi dây liên kết xuyên suốt và móc nối những con người đại diện cho báo chí tại nơi chiến trường. Vai trò cốt lõi và không thể thay thế của nhà báo, phóng viên chiến trường là làm nhân chứng. Họ là cặp mắt của nhân loại tại những nơi mà phần còn lại của thế giới không thể, hoặc không muốn, nhìn tới. Điều mà trí tuệ nhân tạo dù phát triển đến đâu, cũng không thể làm thay được.

Đó cũng là lý do tồn tại của nghề báo nơi chiến địa. Và chừng nào con người còn gây ra chiến tranh, thì nhân loại vẫn sẽ còn cần đến những người dám ở lại nơi tiếng súng, để giữ cho ngọn đèn sự thật không bao giờ tắt.

Kinh Quốc

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/phong-vien-chien-truong-nhung-chung-nhan-cam-tu-post1853221.tpo