Phụ nữ nông thôn xây dựng tương lai bền vững: Từ chủ trương Liên hợp quốc đến chính sách hiệu quả của Việt Nam
Nhận thức, xác định được vai trò cũng như tầm quan trọng của phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng, ngày nay, Liên hợp quốc và Việt Nam đều triển khai nhiều chính sách cùng hoạt động tích cực để cải thiện đời sống, nâng cao vị thế của họ trong phát triển kinh tế-xã hội.

Phụ nữ nông thôn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp và an ninh thực phẩm toàn cầu. (Ảnh: HNV)
Ngày 15/10 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc ấn định là Ngày quốc tế Phụ nữ nông thôn nhằm tôn vinh những đóng góp to lớn của phụ nữ và trẻ em gái khu vực nông thôn trên toàn thế giới.
Nhóm đối tượng này là những người có nhiều đóng góp nhằm bảo đảm nguồn lương thực cho cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái và thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Vai trò trụ cột của phụ nữ trong nông nghiệp, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
Theo đánh giá của Liên hợp quốc, việc đầu tư vào phụ nữ và trẻ em gái nông thôn vừa hướng tới bảo vệ quyền lợi của nhóm, vừa là chìa khóa then chốt để xóa đói giảm nghèo, đạt được công bằng trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu và hiện thực hóa Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.
Liên hợp quốc cũng dự báo đến năm 2030 vẫn còn khoảng 351 triệu phụ nữ và trẻ em gái phải sống trong cảnh nghèo khổ. Vì vậy, việc nhận diện rào cản và đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ phụ nữ nông thôn đang trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại.
Phụ nữ nông thôn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp và an ninh thực phẩm toàn cầu. Theo các số liệu do Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) công bố, phụ nữ sản xuất từ 60% đến 80% lượng thực phẩm ở hầu hết các quốc gia đang phát triển. Tổng sản lượng lương thực trên thế giới có đến một nửa là do phụ nữ sản xuất ra.
Cơ quan Liên hợp quốc này cho biết, trên quy mô toàn cầu, khoảng 1,2 tỷ lao động đang làm việc trong các hệ thống nông nghiệp-thực phẩm, trong đó phụ nữ chiếm tới một nửa lực lượng này.
Tính riêng trong lực lượng lao động nữ có việc làm, khoảng 25% đang trực tiếp hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thấp, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực tạo việc làm nhiều nhất cho phụ nữ.
Liên hợp quốc cũng khẳng định: Bên cạnh vai trò trực tiếp sản xuất, phụ nữ nông thôn cũng có nhiều đóng góp trong công tác bảo tồn tri thức bản địa, giống cây trồng truyền thống và đa dạng sinh học.

Phụ nữ nông thôn thế giới ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình. (Nguồn ảnh tổng hợp từ: FAO-UN Women-JPRWEE-UNDP)
Từ các cộng đồng dân cư tại Mexico, Ấn Độ cho đến Latvia hay Nigeria, phụ nữ chính là người chọn giống, chăm sóc vườn cây, lưu giữ các ngân hàng hạt giống bản địa và truyền lại tri thức ẩm thực đậm chất truyền thống qua nhiều thế hệ.
Những việc làm này một phần duy trì sự đa dạng của hệ sinh thái nông nghiệp bản địa, mặt khác cũng bảo đảm dinh dưỡng phong phú cho gia đình và năng lực tự chủ lương thực tại địa phương.
Đồng thời, bằng việc áp dụng các phương pháp canh tác sinh thái và nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu, phụ nữ nông thôn góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.
Phụ nữ nông thôn một số vùng, quốc gia và dân tộc vẫn đối mặt với rào cản

Tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thấp, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực tạo việc làm nhiều nhất cho phụ nữ. (Nguồn: UN Women)
Mặc dù giữ vai trò then chốt trong xã hội và sản xuất, phụ nữ và trẻ em gái khu vực nông thôn vẫn phải chịu tình trạng đói nghèo, bất bình đẳng và ít cơ hội tiếp cận với các tài nguyên hơn so với nam giới nông thôn, cũng như phụ nữ sinh sống tại khu vực thành thị.
Báo cáo của Liên hợp quốc chỉ ra rằng mặc dù 164 trên 180 quốc gia đã luật hóa quyền bình đẳng của phụ nữ về sở hữu và sử dụng đất, chỉ có 29% quốc gia thực sự bảo đảm được quyền này trên cả phương diện pháp lý lẫn thực tế.
Tại 62% số quốc gia, các chuẩn mực xã hội phụ quyền, luật lệ hoặc tập quán truyền thống vẫn cản trở phụ nữ đứng tên sở hữu tài sản.

Phụ nữ nông thôn nhiều nước đã và đang là lao động chính trong gia đình. (Nguồn: JP RWEE, một khởi động toàn cầu do FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc), IFAD (Quỹ Phát triển Nông thôn Quốc tế), UN Women (Thực thể Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền phụ nữ) và WFP (Chương trình Lương thực thế giới) cùng các đối tác địa phương thực hiện).
Hơn nữa, luật pháp tại 43 quốc gia và vùng lãnh thổ vẫn chưa quy định quyền thừa kế bình đẳng cho phụ nữ mất chồng. Tại 41 quốc gia và vùng lãnh thổ, con gái không có quyền thừa kế ngang bằng với con trai. Điều này dẫn đến một thực trạng tồn tại ở một số nơi: Nhiều phụ nữ rơi vào cảnh nghèo khổ khi người chồng hoặc người cha qua đời.
Tại các khu vực nông thôn ở các nước đang phát triển, rào cản về thủ tục, việc không có tài sản thế chấp và sự phân biệt đối xử khiến phụ nữ khó tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức để mở rộng sản xuất.
Trong kỷ nguyên số, mặc dù tỷ lệ phụ nữ sở hữu điện thoại di động gia tăng, phụ nữ nông thôn vẫn phải chịu nhiều hạn chế về hạ tầng kết nối, chi phí dịch vụ, trình độ học vấn và kỹ năng số.
Phụ nữ và trẻ em gái nông thôn phải đảm nhận phần lớn các công việc nhà và chăm sóc gia đình mà không thể có thời gian để làm những việc khác. Theo nghiên cứu của Liên hợp quốc, trong hai phần ba số hộ gia đình thiếu nước phụ nữ và trẻ em gái phải chịu trách nhiệm lấy nước về cho gia đình.
Gánh nặng này, kết hợp với khoảng cách xa xôi của trường học, đã cản trở cơ hội học tập của nhiều trẻ em gái. Trong một khảo sát của Liên hợp quốc tại 20 quốc gia, chưa đầy 1% phụ nữ nông thôn nghèo hoàn thành giáo dục trung học.
Theo kịch bản tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu mà Liên hợp quốc đưa ra, đến năm 2050, vấn đề toàn cầu này có thể đẩy thêm 158 triệu phụ nữ và trẻ em gái vào cảnh nghèo đói và 236 triệu người vào tình trạng mất an ninh lương thực.
"Khi phụ nữ nông thôn vươn lên, những cánh đồng sẽ xanh tốt, các gia đình sẽ ấm no và xã hội sẽ chuyển mình mạnh mẽ”.
UN Women, Ngày quốc tế Phụ nữ nông thôn năm 2025.
Do đó, Liên hợp quốc đã xác định rõ trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái nông thôn không chỉ đơn thuần là sự hỗ trợ dành cho một nhóm đối tượng, mà chính là khoản đầu tư chiến lược cho sự thịnh vượng và bền vững của toàn thế giới.
Trước đó, Cơ quan Liên hợp quốc vì bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) đã từng tuyên bố trong Ngày quốc tế Phụ nữ nông thôn năm 2025: “Khi phụ nữ nông thôn vươn lên, những cánh đồng sẽ xanh tốt, các gia đình sẽ ấm no và xã hội sẽ chuyển mình mạnh mẽ”.
Việt Nam tích cực và có trách nhiệm trong khơi dậy, phát huy vai trò của phụ nữ nông thôn
Là thành viên tích cực và có trách nhiệm với các chính sách, chủ trương của Liên hợp quốc, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục triển khai nhiều chương trình cải cách pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng tuyệt đối của phụ nữ nông thôn trong việc sở hữu, sử dụng và kiểm soát đất đai, nguồn nước và các tài nguyên thiên nhiên.
Việt Nam còn đang tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cùng các dịch vụ an sinh toàn diện nhằm giảm gánh nặng lao động không lương cho phụ nữ, đồng thời nâng cao năng lực kinh tế, tăng cường sự tham gia và tiếng nói của phụ nữ nông thôn trong các chính sách phát triển cũng như chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu.
Có thể thấy, Ngày quốc tế Phụ nữ nông thôn là dịp để cả thế giới tìm cách xóa bỏ mọi rào cản đối với phụ nữ nông thôn, mở ra con đường ngắn nhất hướng tới một tương lai không còn nghèo đói, an ninh lương thực bền vững cho thế hệ sau.

Lưu Thị Hòa, người sáng lập Hợp tác xã Nông lâm nghiệp và Dịch vụ thương mại tổng hợp Po Mỷ nhận danh hiệu nông dân xuất sắc 2026. (Ảnh: CTV)
Đối với phụ nữ nông thôn Việt Nam, những năm trở lại đây, họ đã thể hiện được bản lĩnh, vai trò của mình trong phát triển kinh tế. Nhiều mô hình khởi nghiệp khởi phát và thành công từ các mô hình này không chỉ giúp chị em làm giàu mà còn tạo việc làm cho nhiều phụ nữ khác, giúp họ ổn định cuộc sống tại quê nhà, không phải di cư đến địa phương khác.
Hơn thế nữa, không dừng lại ở vai trò lao động thuần túy, nhiều phụ nữ nông thôn nước ta đã bước lên vị trí người ra quyết định kinh doanh, biến tri thức bản địa thành hàng hóa thương mại, qua đó tạo việc làm bền vững tại chỗ và giải quyết bài toán sinh kế cho hàng trăm lao động đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng.

Lưu Thị Hòa trong một sự kiện giới thiệu sản phẩm đặc trưng vùng miền. (Ảnh: HỢP TÁC XÃ PO MỶ)
Gặp gỡ Lưu Thị Hòa (1993), dân tộc Cờ Lao tại hội nghị “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường” do Liên minh hợp tác xã Việt Nam tổ chức mới đây ở Hà Nội, chúng tôi không khỏi trầm trồ trước những kết quả cô gái này mang lại cho cộng đồng.
Lưu Thị Hòa đã quyết tâm khởi nghiệp và thành công với dự án nông nghiệp sạch. Cô cũng chính là người sáng lập Hợp tác xã Nông lâm nghiệp và Dịch vụ thương mại tổng hợp Po Mỷ (Hà Giang cũ, nay là Tuyên Quang) từ năm 2017 đến nay.
Làm chủ một hợp tác xã kiểu mới do chính mình sáng lập, phát huy hiệu quả kinh nghiệm truyền thống, ứng dụng tối đa làn sóng chuyển đổi số và tư duy kinh tế tuần hoàn, cô gái đó đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa tri thức bản địa với tư duy kinh tế hiện đại, đó là những gì chúng tôi dễ dàng cảm nhận khi phóng viên Báo Nhân Dân trao đổi cùng Lưu Thị Hòa.

Lương Thị Mỹ Huệ (áo dài thổ cẩm) nhận danh hiệu Nhà cung ứng xuất sắc Việt Nam 2025. (Ảnh: CTV)
Hay qua chia sẻ với Lương Thị Mỹ Huệ (1982), sáng lập viên và giám đốc điều hành Công ty TNHH Thảo Dược Tây Nguyên (DATO), đóng trên địa bàn Kon Tum cũ và Quảng Ngãi nay từ năm 2018 đến giờ, chúng tôi không khỏi thán phục về sự quyết tâm và kiên trì theo đuổi đến cùng mục tiêu của người phụ nữ này.
Theo đuổi mô hình Doanh nghiệp tạo tác động xã hội, gắn liền với việc phát triển bền vững và hỗ trợ cộng đồng, mô hình kinh doanh của DATO hướng đến liên kết với bà con đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Đăk Tô, tỉnh Quảng Ngãi trồng các loại gia vị và dược liệu bản địa.
“DATO chúng tôi đã xây dựng mô hình chuỗi liên kết bền vững, từ hỗ trợ giống-phân bón-kỹ thuật, đến thu mua chế biến và phát triển thị trường. Tất cả nhằm kiến tạo một hệ sinh thái minh bạch, công bằng và khép kín, nơi mà người nông dân được tôn trọng như một mắt xích quan trọng nhất trong chuỗi giá trị”, Lương Thị Mỹ Huệ chia sẻ.
Rồi qua trao đổi với Bùi Thị Hiếu (1986), Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và tiêu thụ nông sản sạch Viên Sơn, phường Sơn Tây, thành phố Hà Nội (trước sáp nhập thuộc phường Viên Sơn, thị xã Sơn Tây), chúng tôi càng thấy được giá trị của mô hình sản xuất khoa học, bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Bùi Thị Hiếu bên vườn rau sạch. (Ảnh: HỒNG LIÊN)
Không dừng lại ở thành công trên ruộng vườn, Bùi Thị Hiếu còn là gương mặt tiêu biểu trong các hoạt động đoàn thể, công tác xã hội; là đoàn viên danh dự, nhiều lần được biểu dương, tặng giấy khen vì những thành tích xuất sắc trong hoạt động Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ...
Vừa mới đây, Thạch Thị Chal Thi (1989), nhà sáng lập, Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Trà Vinh Farm đã được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam lựa chọn là một trong 10 Phụ nữ tiêu biểu trong Hệ thống Nông nghiệp-Thực phẩm và Phát triển Nông thôn năm 2026.
Đây là một dấu mốc đặc biệt trong hành trình của chị Chal Thi và Sokfarm, đồng thời là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của một nữ doanh nhân Khmer trong việc phát triển nông sản bản địa, tạo sinh kế cho cộng đồng và thúc đẩy một mô hình nông nghiệp bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Sự ghi nhận của FAO dành cho chị Chal Thi là sự trân trọng đối với hành trình phát triển giá trị nông sản bản địa, gắn sản xuất với sinh kế người nông dân và theo đuổi hướng phát triển nông nghiệp bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long, thích ứng với tình hình xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu.
Nhiều năm qua, Chal Thi cùng Sokfarm đã kiên trì theo đuổi hành trình phát triển sản phẩm từ mật hoa dừa, nguồn tài nguyên bản địa gắn bó với đời sống người dân vùng dừa, đồng thời mở ra một hướng đi mới cho nông nghiệp hữu cơ tại địa phương, mở rộng thị trường trong nước và đưa sản phẩm đến nhiều quốc gia trên thế giới.

Với tấm bằng thạc sĩ ngành Công nghệ Thực phẩm từ Trường đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018, Thạch Thị Chal Thi trở về quê hương Trà Vinh, quyết tâm khởi nghiệp từ việc khai thác mật hoa dừa theo truyền thống của người Khmer. (Ảnh: SOKFARM)
"Trên hành trình đó, với phương châm “Nông nghiệp hạnh phúc”, Sokfarm chúng tôi đã thực hành một cách làm nông nghiệp trong đó sự phát triển của doanh nghiệp gắn với sinh kế của người nông dân, lợi ích của cộng đồng và sự bền vững của môi trường", Chal Thi tâm sự.
Có thể thấy, sự xuất sắc của Lưu Thị Hòa, của Lương Thị Mỹ Huệ, Bùi Thị Hiếu, Thạch Thị Chal Thi cùng nhiều chị em phụ nữ khác nữa ở nông thôn Việt Nam đã và đang chứng tỏ sự vươn lên của phụ nữ, nhất là phụ nữ vùng nông thôn, trong đó có cả phụ nữ dân tộc thiểu số.
Ý nghĩa sâu xa hơn của sự vươn lên đó còn nằm ở sự thay đổi diện mạo kinh tế-xã hội tại các vùng nông thôn, miền núi mà nổi bật nhất chính là khả năng chuyển dịch từ mô hình sản xuất thô sang chuỗi giá trị chế biến sâu, trực tiếp hình thành lực lượng lao động nông thôn có sinh kế bền vững ngay trên chính quê hương chị em đang sinh sống và lao động, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển bền vững nói chung của đất nước.


