Phú Thọ chuyển hoá các định hướng chiến lược thành sức mạnh tăng trưởng

Thực hiện đồng bộ Nghị quyết 57, 59, 66 và 68 của Bộ Chính trị, tỉnh Phú Thọ đang từng bước chuyển hóa các định hướng chiến lược thành những chương trình, cơ chế và kết quả cụ thể. Từ đó, tạo thêm động lực để tỉnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Sau hợp nhất, Phú Thọ đang đứng trước một không gian phát triển mới với quy mô, tiềm năng và nguồn lực lớn hơn. Trong bối cảnh đó, việc triển khai bốn nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị - Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế; Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân - đang được Phú Thọ xác định như một chỉnh thể thống nhất, thay vì những nhiệm vụ riêng lẻ.

Bốn nghị quyết tạo thành một chuỗi liên kết: Thể chế mở đường, khoa học - công nghệ tạo năng suất, hội nhập mở rộng không gian và kinh tế tư nhân trở thành lực lượng trực tiếp tạo ra của cải, việc làm và sức cạnh tranh.

Khi nghị quyết được chuyển hóa thành động lực tăng trưởng

Những kết quả kinh tế trong nửa đầu năm 2026 phần nào cho thấy, hướng đi này đang tạo chuyển động tích cực. Theo báo cáo của UBND tỉnh Phú Thọ, GRDP 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,18%, xếp thứ 7 cả nước và dẫn đầu vùng Trung du và miền núi phía Bắc; thu ngân sách đạt khoảng 34,6 nghìn tỷ đồng, bằng gần 60% dự toán năm.

Môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, thu hút đầu tư đạt kết quả đột phá. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt gần 1,8 tỷ USD, tăng 4,9 lần so với cùng kỳ, vượt kế hoạch năm; vốn đầu tư trong nước đạt hơn 700 triệu USD; số doanh nghiệp thành lập mới tăng 29,1%. Đáng chú ý, tỉnh đã thu hút nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ cao, có giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn, tiêu biểu như Dự án mở rộng sản xuất thiết bị điện tử của BYD (Trung Quốc) và Nhà máy sản xuất, chế tạo vi mạch điện tử Meiko Yên Quang (Nhật Bản), mỗi dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 500 triệu USD.

Công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, trong khi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch duy trì đà phát triển.

Đằng sau những con số ấy là một cách tiếp cận đang thay đổi: thay vì chỉ tìm kiếm thêm dự án và nguồn vốn, Phú Thọ hướng tới xây dựng một hệ sinh thái phát triển, trong đó doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, thể chế và hội nhập quốc tế cùng vận hành.

Nghị quyết 57: Đưa khoa học - công nghệ vào trung tâm mô hình tăng trưởng

Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra dư địa mới để Phú Thọ nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong dài hạn.

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, Phú Thọ đang từng bước hoàn thiện hạ tầng số và chuyển phương thức quản trị theo hướng dựa trên dữ liệu. Đến nay, 100% xã, phường đã được phủ cáp quang băng rộng; mạng 4G phủ khoảng 98% diện tích; gần 1.000 trạm phát sóng 5G đã được đưa vào khai thác, phủ sóng toàn bộ các đô thị trung tâm và khu công nghiệp. Theo tiêu chí của Bộ Khoa học và Công nghệ, Phú Thọ cũng đã xóa hoàn toàn các khu vực thôn lõm sóng. Tỉnh đồng thời đưa vào vận hành Hệ thống quản trị, điều hành phát triển kinh tế - xã hội dựa trên dữ liệu thời gian thực, từng bước hình thành nền tảng phục vụ quản trị, điều hành chính quyền số và thúc đẩy phát triển kinh tế số.

Kinh tế số đang trở thành một động lực tăng trưởng mới của Phú Thọ. Sau hợp nhất, quy mô kinh tế số của tỉnh ước chiếm 22,7% GRDP, xếp thứ 3/34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Toàn tỉnh hiện có khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ số; riêng sản xuất điện tử, máy tính và sản phẩm quang học chiếm trên 38% quy mô toàn ngành công nghiệp. Giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp số năm 2025 đạt hơn 7 tỷ USD.

Đây là sự chuyển dịch có ý nghĩa bởi tăng trưởng không thể chỉ dựa vào mở rộng vốn, đất đai và lao động. Khi dư địa của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp, năng suất, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực phải trở thành những biến số quyết định.

Phú Thọ hiện có 63 tổ chức khoa học và công nghệ, 23 trường đại học, cao đẳng, 20 viện, trung tâm nghiên cứu cùng 31 doanh nghiệp khoa học công nghệ và công nghệ cao. Tỉnh đang chuyển cách thức triển khai nhiệm vụ khoa học - công nghệ sang đặt hàng theo kết quả đầu ra có thể đo lường, ưu tiên ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất.

Nói cách khác, Nghị quyết 57 đang được Phú Thọ tiếp cận không chỉ như một chương trình chuyển đổi số của chính quyền, mà là một chiến lược nâng cấp năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Nghị quyết 68: Khơi thông nguồn lực từ khu vực tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là một trong những lực lượng trực tiếp biến động lực đó thành sản phẩm, thị trường và việc làm.

Nghị quyết 68-NQ/TW đã xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đồng thời đặt yêu cầu xóa bỏ định kiến đối với kinh tế tư nhân, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bình đẳng và khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, làm giàu hợp pháp. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kết nối giữa các doanh nghiệp.

Ở Phú Thọ, tinh thần này đang được cụ thể hóa bằng việc cải thiện môi trường đầu tư, rút ngắn quy trình xử lý thủ tục và tăng cường đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp.

Cơ chế “Luồng xanh 24 giờ” và “Luồng xanh 50%” được thí điểm trong giải quyết thủ tục hành chính phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Tỉnh đồng thời công bố danh mục 175 dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư giai đoạn 2026-2030 và duy trì chương trình “Cà phê doanh nhân” vào thứ Sáu hằng tuần để trực tiếp lắng nghe, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Những con số 2.800 doanh nghiệp thành lập mới và 665 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm cho thấy sức sống của khu vực doanh nghiệp đang được khơi thông.

Điều đáng chú ý là Phú Thọ không đặt phát triển kinh tế tư nhân tách rời với thu hút FDI. Ngược lại, tỉnh đang hướng tới kết nối doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn quốc tế, từ đó nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng, chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường.

Đây là điểm quan trọng để Nghị quyết 68 gặp Nghị quyết 57: doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, còn công nghệ phải trở thành công cụ giúp doanh nghiệp nâng năng suất và sức cạnh tranh.

Nghị quyết 59: Mở rộng không gian phát triển bằng hội nhập

Với không gian phát triển rộng hơn sau hợp nhất, hội nhập quốc tế càng có ý nghĩa đối với Phú Thọ. Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới được tỉnh cụ thể hóa bằng Chương trình hành động số 10-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch số 9371/KH-UBND của UBND tỉnh. Cách tiếp cận của Phú Thọ cũng đang được mở rộng từ đối ngoại đơn thuần sang hội nhập để huy động nguồn lực phát triển.

Tỉnh đã mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều địa phương, đối tác nước ngoài như các địa phương của Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, châu Âu... hợp tác được triển khai trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, kinh tế và du lịch.

Đáng chú ý, tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo. Cách tổ chức này cho thấy hội nhập đang được nhìn nhận theo hướng toàn diện hơn, trong đó khoa học - công nghệ, giáo dục, văn hóa và kinh tế có mối quan hệ bổ trợ.

Ngoại giao kinh tế vì thế không chỉ nằm ở những chuyến công tác, các cuộc gặp gỡ hay bản ghi nhớ hợp tác, mà hướng tới những kết quả cụ thể hơn: Thu hút đầu tư, mở thị trường, kết nối doanh nghiệp, tiếp nhận công nghệ, đào tạo nhân lực và quảng bá hình ảnh địa phương.

Cùng với kinh tế, Phú Thọ đang khai thác văn hóa như một “tài sản mềm” của hội nhập. Với hệ thống di sản, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Hát Xoan, lễ hội, làng nghề và các sản phẩm văn hóa đặc sắc, tỉnh có điều kiện để biến bản sắc Đất Tổ thành lợi thế trong quảng bá địa phương, phát triển du lịch và kết nối quốc tế.

6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đón hơn 10,5 triệu lượt khách, tăng 13,3% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch đạt gần 10,8 nghìn tỷ đồng.

Như vậy, hội nhập đang được đặt trong một chuỗi giá trị rộng hơn: Văn hóa tạo bản sắc, đối ngoại tạo kết nối, đầu tư tạo nguồn lực và khoa học - công nghệ tạo năng lực cạnh tranh.

Nghị quyết 66: Thể chế phải đi trước một bước

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh nhưng bền vững không thể thiếu một hệ thống thể chế minh bạch, ổn định và có khả năng phản ứng nhanh với những thay đổi của thực tiễn. Đó cũng là yêu cầu cốt lõi của Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tại Phú Thọ, yêu cầu này được đặt trong bối cảnh đặc biệt: tỉnh vừa mở rộng không gian phát triển, vừa vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Điều đó đòi hỏi hệ thống văn bản, quy trình quản trị và phân cấp, phân quyền phải được rà soát, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn mới.

Các cơ quan của tỉnh được yêu cầu rà soát những quyết định, nghị quyết không còn phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện kinh tế - xã hội; đồng thời tăng cường truyền thông chính sách, nhất là những chính sách có tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp.

Ở một góc độ khác, cải cách thể chế đang được thể hiện bằng những việc rất cụ thể đối với doanh nghiệp. Cơ chế “Luồng xanh”, đơn giản hóa thủ tục, công khai danh mục dự án kêu gọi đầu tư, duy trì đối thoại với doanh nghiệp.

Hướng tới một nền kinh tế phát triển toàn diện

Nhìn từ thực tiễn tại Phú Thọ, giá trị lớn nhất của 4 Nghị quyết 57, 59, 66 và 68 không nằm ở từng nhiệm vụ riêng lẻ mà ở khả năng tạo thành một hệ thống hỗ trợ lẫn nhau. Khi bốn trụ cột này được triển khai đồng bộ, mô hình tăng trưởng của Phú Thọ có cơ hội chuyển từ dựa nhiều vào khai thác nguồn lực sẵn có sang huy động và phát huy tốt hơn các nguồn lực mới: dữ liệu, công nghệ, tri thức, doanh nghiệp, thị trường quốc tế và sức mạnh văn hóa.

Đây cũng là hướng đi phù hợp với mục tiêu tăng trưởng hai con số mà tỉnh đang theo đuổi. Bởi vậy, chặng đường tới đòi hỏi Phú Thọ không chỉ “làm nhiều hơn”, mà quan trọng hơn là làm khác đi.

Quản trị dựa trên dữ liệu thay cho quản lý thủ công; lấy doanh nghiệp làm trung tâm thay vì chỉ coi doanh nghiệp là đối tượng quản lý; coi hội nhập là công cụ huy động nguồn lực thay vì chỉ mở rộng quan hệ; coi thể chế là một lợi thế cạnh tranh thay vì đơn thuần là khuôn khổ quản lý.

Từ nền tảng đó, mục tiêu phát triển kinh tế toàn diện của Phú Thọ có thể được hình dung không chỉ ở những con số tăng trưởng, mà ở khả năng hình thành một hệ sinh thái phát triển cân bằng hơn giữa công nghiệp và dịch vụ, đô thị và nông thôn, kinh tế số và kinh tế truyền thống, doanh nghiệp trong nước và FDI, nguồn lực nội sinh và nguồn lực quốc tế.

Nếu thực hiện tốt sự kết nối này, “bộ tứ” Nghị quyết 57, 59, 66 và 68 sẽ không chỉ là những định hướng chính trị được cụ thể hóa trên địa bàn, mà có thể trở thành bộ khung chính sách giúp Phú Thọ chuyển hóa lợi thế sau hợp nhất thành sức mạnh tăng trưởng, từ đó từng bước khẳng định vai trò một cực phát triển mới của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Tống Thoan

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/phu-tho-chuyen-hoa-cac-dinh-huong-chien-luoc-thanh-suc-manh-tang-truong-428781.html