Phú Thọ vươn mình trong không gian phát triển mới (Kỳ 3): Quy hoạch phải mở đường cho không gian phát triển
Tạp chí Kinh tế Môi trường trân trọng giới thiệu bài viết của GS.TS Hoàng Xuân Cơ, chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế môi trường liên quan đến câu chuyện quy hoạch tỉnh Phú Thọ trong kỷ nguyên vươn mình phát triển của dân tộc.


Tỉnh Phú Thọ sau khi sát nhập với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Hòa Bình theo Nghị quyết 202/2025/QH15 do Quốc hội ban hành ngày 12/06/2025 có diện tích tự nhiên là 9.361,38 km2, quy mô dân số là 4.022.638 người (2025).
Sau hơn 1 năm hoạt động (tính đến tháng 8/2026) tỉnh đã hoàn thiện được các chức danh lãnh đạo của tỉnh ủy, UBND, các Sở, Ban, Ngành và quy mô cùng lãnh đạo của 148 xã phường của tỉnh. Như vậy, có thể coi tỉnh Phú Thọ đã đi vào hoạt động ổn định về mặt thể chế. Từ nay, toàn tỉnh đã có thể tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội, từng bước tăng GRDP, tăng đời sống nhân dân để thực hiện được mục tiêu chung đặt ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030:
“Đến năm 2030, Phú Thọ là một trong những cực tăng trưởng của vùng Thủ đô; trở thành trung tâm phát triển công nghiệp, thương mại, logistics, du lịch, y tế, đào tạo chất lượng cao và tổ chức lễ hội văn hóa lớn gắn với cội nguồn dân tộc; trung tâm tổ chức các sự kiện quốc gia, quốc tế.
Tầm nhìn đến năm 2045: Phú Thọ là thành phố trực thuộc Trung ương; có hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, xã hội phồn vinh, thịnh vượng; người dân có chất lượng cuộc sống cao, hạnh phúc; nền văn hóa tiên tiến, giàu bản sắc; môi trường sinh thái trong lành, đáng sống; quốc phòng, an ninh được giữ vững, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm”.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bàn Phú Thọ (Ảnh: Vũ Hải)
Cùng với mục tiêu chung là các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030 rất cụ thể như:
“(1) Quy mô tổng sản phẩm (GRDP) cao gấp hơn 2 lần so với năm 2025. Tốc độ tăng trưởng GRDP theo giá so sánh của giai đoạn 2026-2030 khoảng 11-12%/năm. GRDP bình quân đầu người cao gấp hơn 2 lần so với năm 2025, đạt khoảng 220-230 triệu đồng. Đóng góp của nhân tố TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 khoảng 55-60%; đóng góp của kinh tế số đạt trên 30% GRDP.
(2) Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn trong 5 năm đạt trên 910.000 tỷ đồng. Thu ngân sách nhà nước tăng bình quân trên 10%/năm, đến năm 2030 đạt trên 85.000 tỷ đồng. Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên 45.000 doanh nghiệp; tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực kinh tế tư nhân trên 12%/năm. Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh đạt từ 0,75 trở lên; tỷ lệ người dân và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến đạt trên 80%.
(3) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 35-40%. Hoàn thành chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao theo Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội”.
(4) Quy mô dân số dự kiến 4,2 triệu người. Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 76 năm; thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 69 năm. Thu nhập bình quân đầu người trên 8,7 triệu đồng/tháng. Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt 0,78. Chỉ số phát triển và hạnh phúc (VDHI) đạt tối thiểu 85 điểm, thuộc ngưỡng tỉnh phát triển khá cao và hạnh phúc.
(5) Số lao động có việc làm trong nền kinh tế đạt 2,4 triệu người. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt trên 80-85%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 40-45%. Tỷ lệ thất nghiệp từ 0,9-1,1%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân trên 12%/năm.
(6) Số bác sĩ/vạn dân đạt 19 bác sĩ; số giường bệnh/vạn dân đạt 50 giường bệnh. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 100%. Đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025).
(7) Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia đạt trên 95%. Tỷ lệ xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới đạt trên 85%, trong đó trên 40% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao.
(8) Tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 100%. Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn đạt trên 95%. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn ở khu vực đô thị đạt 100% và ở khu vực nông thôn đạt trên 85%. Tỷ lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%. Tỷ lệ chất thải nguy hại và tỷ lệ chất thải y tế được thu gom, xử lý đạt 100%. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì mức 42,5%”.
Các mục tiêu, tiêu chí nêu trên là định hướng, là mệnh lệnh của Đảng bộ tỉnh yêu cầu các cấp ủy trong Đảng, UBND các cấp, các Sở, Ban, Ngành, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và toàn dân thực hiện. Quả thật, nhiều tiêu chí nêu trên khá cao, cần sự nỗ lực bứt phá, cần huy động được tất cả nguồn lực mới có thể thực hiện được. Tiêu chí Tốc độ tăng trưởng GRDP theo giá so sánh của giai đoạn 2026-2030 khoảng 11-12%/năm là một tiêu chí thuộc loại này.
Đã có mục tiêu, tiêu chí do Đảng đề ra, vấn đề đầu tiên trong quá trình thực hiện là Phú Thọ phải xây dựng ngay được quy hoạch phát triển thật tốt, phù hợp với điều kiện hiện có của tỉnh, tận dụng tối đa các nguồn lực, cả trong và ngoài tỉnh, cả thể chế, kinh phí, nhân lực, công nghệ-kỹ thuật,…để vừa phát triển nhanh nhưng đảm bảo tính bền vững. Trong bài viết này chúng tôi muốn bàn, đề cập một số nội dung liên quan đến việc xây dựng quy hoạch phát triển tỉnh Phú Thọ trên cơ sở phân tích một số tài liệu hiện có dựa trên lý thuyết quy hoạch.

Có thể nói rằng Phú Thọ có đủ cơ sở pháp lý để xây dựng quy hoạch phát triển tỉnh (sau đây gọi tắt là QHPT), đó là Luật Quy hoạch (LQH) cùng các văn bản pháp luật đi kèm. Nói cách khác tỉnh Phú Thọ phải xây dựng QHPT theo quy định pháp luật để có phương hướng phát triển phù hợp với quy hoạch phát triển quốc gia (QHQG), quy hoạch phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng - QHĐBSH (vì Vĩnh Phúc trước đây thuộc vùng này), quy hoạch xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội (QHXDVTĐ).
Trước khi sáp nhập, 3 tỉnh Phú Thọ cũ, Vĩnh Phúc cũ và Hòa Bình cũ đều đã xây dựng quy hoạch của tỉnh mình và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây sẽ là cơ sở tốt về cả nội dụng, cơ sở dữ liệu để xây dựng QHPT và chắc chắn phải tham khảo 3 quy hoạch đã có này để xây dựng QHPT.
Bây giờ là lúc xây dựng QHPT để định hướng và lên kế hoạch thực hiện những mục tiêu mà tỉnh ủy đã đặt ra. Chắc chắn QHPT phải dựa vào QHQG, QHĐBSH và QHXDVTĐ theo yêu cầu của LQH: “Quy hoạch tỉnh là quy hoạch cụ thể hóa quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng ở địa bàn tỉnh về phương hướng phát triển, sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, phát triển đô thị và nông thôn, kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu”. Vì vậy những người chịu trách nhiệm lập QHPT phải nghiên cứu kỹ những gì đã nêu trong các QHQG, quy hoạch vùng có liên quan đến địa bàn Phú Thọ.

Chúng tôi xin nêu một số nội dung cần được cụ thể hóa từ 3 quy hoạch nêu trên làm minh chứng.
Trong QHQG đã khẳng định/đề cập:
-Xây dựng vành đai công nghiệp Bắc Giang - Thái Nguyên - Phú Thọ (có đi qua tỉnh Vĩnh Phúc của vùng Đồng bằng sông Hồng) trở thành vùng động lực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
-Hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh với chức năng là vùng ảnh hưởng trực tiếp của tuyến hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh gồm 9 tỉnh, thành phố phía Bắc từ Lào Cai đến Hải Phòng và Quảng Ninh.

Một doanh nghiệp lớn ở Phú Thọ (Ảnh: Vũ Hải)
-Định hướng phân bố không gian phát triển hệ thống du lịch quốc gia cho Vùng Trung du miền núi phía Bắc, trong đó có Tiểu vùng Tây Bắc (gồm 07 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai): Phát triển sản phẩm chính: du lịch về nguồn, du lịch cộng đồng; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng núi và chăm sóc sức khỏe; nghỉ cuối tuần; thể thao khám phá; du lịch sinh thái hồ thủy điện. Sản phẩm bổ trợ: du lịch trang trại nông nghiệp công nghệ cao; du lịch biên giới gắn với thương mại cửa khẩu; du lịch hội chợ, sự kiện.
-Định hướng điều tra khoáng sản theo các vùng, trong đó vùng miền núi phía Bắc sẽ tiếp tục đánh giá các loại khoáng sản có triển vọng bao gồm đất hiếm, quặng vàng, quặng đồng - nikel, thiếc - wolfram, chì - kẽm, kaolin - felspat, graphit, đá vôi xi măng, cát sỏi lòng sông, vật liệu xây dựng thay thế cát sỏi lòng sông. Cụ thể, đới sông Hồng (thuộc Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ): kaolin - felspat, graphit, đá hoa, cát sỏi lòng sông; đới sông Đà, sông Mã (thuộc Sơn La, Hòa Bình): đồng - nikel, kaolin - felspat, đá cảnh.
-Cây chè được phát triển chủ yếu ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc với 80% diện tích trồng chè cả nước. Một số địa phương có diện tích chè lớn như: Thái Nguyên (22,4 nghìn ha), Hà Giang (20,4 nghìn ha), Phú Thọ (15,7 nghìn ha), Lâm Đồng (10,7 nghìn ha).
-Hành lang kinh tế Điện Biên - Sơn La - Hòa Bình - Hà Nội với chức năng là tuyến hành lang kết nối khu vực Tây Bắc với vùng Đồng bằng sông Hồng, liên kết với hành lang kinh tế Bắc - Nam và kết nối với khu vực phía Bắc Lào, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc.
-Hành lang kinh tế (HLKT) Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh: là một phần của hai HLKT quan trọng là Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Hai HLKT này đi qua các địa phương trên địa bàn vùng là TP. Hà Nội, TP. Hải Phòng và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh. Đây là hành lang công nghiệp - thương mại quan trọng nhất của vùng, có vai trò kết nối với khu vực và quốc tế.
Trong QHĐBSH đã khẳng định/đề cập:
-Các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong kỳ quy hoạch, trong đó có nhiệm vụ: Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển các trung tâm hành chính tỉnh, thành phố để tăng cường liên kết và hình thành các chuỗi đô thị, trong đó, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh gắn với phát triển vành đai công nghiệp, đô thị, dịch vụ.
-Đẩy mạnh hình thành các cụm liên kết sản xuất ô tô tập trung chủ yếu tại Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Ninh Bình.
-Định hướng phát triển các tiểu vùng, trong đó có Tiểu vùng phía Bắc gồm 07 tỉnh và thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. Phát triển tiểu vùng phía Bắc gắn chặt với phát triển vùng Thủ đô Hà Nội nhằm tập trung phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là công nghiệp cơ điện tử, chíp bán dẫn, sản phẩm công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, sản xuất robot. Phát triển dịch vụ, thương mại, tài chính - ngân hàng, dịch vụ vận tải - logistics, du lịch tầm quốc tế; dẫn đầu cả nước về giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, văn hóa và thể dục thể thao, y tế và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, an ninh và trật tự xã hội, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân.
-Thu hút đầu tư và nâng cao chất lượng hai khu du lịch quốc gia đã được công nhận gồm: Khu du lịch quốc gia Trà Cổ (Quảng Ninh) và khu du lịch quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc); quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới.
-Tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư, thu hút đầu tư phát triển một số khu đại học ở các tỉnh như: Khu đại học Phố Hiến (Hưng Yên); khu đại học Nam Cao (Hà Nam); khu đại học tại Vĩnh Phúc; khu đại học tại Bắc Ninh theo hướng đầu tư đồng bộ, bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng kết nối
-Vùng sản xuất tập trung, trong đó có các trung tâm công nghiệp, cụ thể Trung tâm công nghiệp vùng Thủ đô Hà Nội bao gồm khu vực phía Bắc và phía Đông Hà Nội (Mê Linh, Sóc Sơn, Gia Lâm, một phần Đông Anh), Bắc Ninh, khu vực phía Đông Nam Vĩnh Phúc (Thành phố Vĩnh Yên, huyện Bình Xuyên) và khu vực phía Bắc Hưng Yên (các huyện Văn Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ). Tập trung phát triển theo hướng hình thành trung tâm công nghiệp chế tạo lớn, hiện đại hàng đầu trong cả nước về công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ thông tin, sản xuất chíp và linh kiện, thiết bị điện tử, viễn thông, rô-bốt, sản xuất phần mềm, máy móc thiết bị y tế công nghệ cao; công nghiệp cơ khí chính xác, chế tạo máy công cụ và một phần là công nghiệp hỗ trợ, sản xuất lắp ráp ô tô.
-Vùng vành đai nông, lâm nghiệp trung du đồi núi thuộc phạm vi tỉnh Vĩnh Phúc, khu vực phía Tây và phía Bắc Hà Nội, khu vực phía Bắc Hải Dương, phía Tây và một phần thuộc huyện Hải Hà, thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Hà Nam, phía Tây - Bắc Ninh Bình. Tập trung phát triển sản xuất các sản phẩm hàng hóa lớn gồm trồng cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc (bò sữa, bò thịt, dê), nuôi đặc sản; phát triển sản xuất nông, lâm kết hợp, trồng rừng sản xuất, canh tác lúa kết hợp trồng rau màu và cây thức ăn gia súc để cung ứng chủ yếu cho nhu cầu trên địa bàn.
-Phát triển một số trục kết nối đến các đầu mối vận tải lớn, các khu công nghiệp, tạo thành không gian phát triển đô thị, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thúc đẩy giao lưu thương mại, đầu tư và phát triển giữa các tỉnh trong vùng. Trong đó có tuyến đường vành đai công nghiệp Bắc Giang - Thái Nguyên - Vĩnh Phúc; các tuyến đường bộ kết nối Vĩnh Phúc với huyện Sóc Sơn, Mê Linh (Hà Nội).
-Ưu tiên xây dựng các khu xử lý chất thải tập trung đồng bộ, hiện đại liên vùng, liên tỉnh, đặc biệt là các cơ sở xử lý chất thải nguy hại, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại. Nghiên cứu phương án xử lý chất thải phân tán với công nghệ hiện đại, phù hợp với điều kiện và quy mô phát thải tại Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng.
-Chú trọng bảo vệ một số hồ đặc biệt như: Hồ Đại Lải (Vĩnh Phúc); Hồ Xạ Hương (Tam Đảo, Vĩnh Phúc); Hồ Vân Trục (Lập Thạch, Vĩnh Phúc),…
-Trong danh mục dự kiến các dự án quan trọng của vùng có Quy hoạch và đầu tư xây dựng các khu đại học tại các tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh.
Trong QHXDVTĐ đã khẳng định/đề cập:
-Phạm vi Vùng Thủ đô Hà Nội gồm toàn bộ ranh giới của Thủ đô Hà Nội và 09 tỉnh xung quanh là Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang (trong đó Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang là 03 tỉnh được mở rộng so với Quyết định số 490/2008/QĐ-TTgngày 05 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ). Tổng diện tích toàn vùng Khoảng 24.314,7 km2.
-Thủ đô Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Ninh, là các địa phương có tốc độ và tỉ lệ đô thị hóa cao; có vị trí trung tâm của toàn Vùng trên cơ sở vị thế của Thủ đô Hà Nội với các vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của quốc gia, trong đó nổi bật là các thế mạnh về công nghiệp, đào tạo, nguồn nhân lực và các Điều kiện hạ tầng; các chức năng cấp vùng, quốc gia và quốc tế được tăng cường thông qua việc thiết lập các trung tâm tài chính - thương mại, nghiên cứu - phát minh khoa học, hội nghị hội thảo, thể dục thể thao, không gian di sản và du lịch quốc tế...
-Vĩnh Phúc phát triển kinh tế tổng hợp về công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp sinh thái gắn với các đầu mối giao thông quan trọng của khu vực phía Bắc và cả nước; tăng cường phát triển các chức năng về thương mại, trung chuyển hàng hóa (logistics tại Bình Xuyên, Tân Tiến - Vĩnh Tường...), du lịch sinh thái nghỉ dưỡng (Tam Đảo - Tây Thiên, Tam Đảo 2, Đại Lải, Đầm Vạc, hồ Sáu Vó, Vân Trục...), y tế và đào tạo chất lượng cao (Khu đô thị đại học Vĩnh Phúc)...; đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa Khoảng từ 63 - 68%.

Hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp trên địa bàn Phú Thọ (Ảnh Vũ Hải).
-Đô thị Vĩnh Phúc: Trung tâm cấp vùng về thương mại, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, y tế và đào tạo chất lượng cao của Vùng Thủ đô Hà Nội.
-Phát triển nông nghiệp theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và chế biến sản phẩm: Vùng đồng bằng (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam) phát triển các vùng lúa đặc sản, lúa chất lượng cao, rau quả sạch, hoa, cây ăn quả đặc sản; vùng trung du, miền núi (Hòa Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang) phát triển các vùng cây công nghiệp, cây ăn quả đặc sản...
-Các khu vực thuận lợi kết nối với sân bay quốc tế Nội Bài (thuộc thành phố Hà Nội, các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Bắc Giang): Tập trung phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông. Tiếp tục phát triển các ngành lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng cao cấp...; phát triển không gian công nghiệp gắn với đô thị hóa tại các khu vực đô thị thuộc Sóc Sơn, Mê Linh, Đông Anh (Hà Nội); Phúc Yên, Bình Xuyên, Tam Dương, Lập Thạch, Sông Lô (Vĩnh Phúc); huyện Phổ Yên (Thái Nguyên), huyện Yên Phong (Bắc Ninh), huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang).
Những liệt kê nêu trên là những điểm nhấn mà các quy hoạch quốc gia và quy hoạch vùng đã phát hiện đưa vào để thực hiện. Rõ ràng, QHPT sẽ phải sử dụng, cụ thể hóa thêm mọi nội dung quy định trong LQH thành một bản QH hoàn chỉnh, đồng bộ, phản ánh được nét đặc thù của tỉnh và có tính khả thi cao.
Quả thật, để có bản quy hoạch tốt, phù hợp với lãnh thổ và điều kiện hiện có của tỉnh phải nghiên cứu sâu hơn lý thuyết quy hoạch, phải tìm được đội ngũ nhà quy hoạch có đủ kiến thức chuyên ngành, có người lãnh đạo, quản lý có tâm, có tầm, có tài, có quyết tâm để chỉ đạo công tác lập quy hoạch.

Lý thuyết quy hoạch cố gắng khắc họa/định nghĩa rõ ràng, ngắn nhất có thể về quy hoạch để tập trung được vào những nội dung cốt lõi, để đưa ra những quyết sách có tính khả thi và đem lại hiệu quả cao khi thực hiện.
Dưới đây xin tổng quan lại một số kiến thức cơ bản về lý thuyết quy hoạch từ các tài liệu chúng tôi tham khảo được.
Về khái quát/định nghĩa quy hoạch, có thể hiểu, quy hoạch là công cụ hiệu quả nhất để các nhà lãnh đạo dân cử quản lý sự phát triển, ứng phó với những thay đổi và đưa ra các quyết định khó khăn sẽ phải đối mặt. Quy hoạch giúp xác định mục tiêu phát triển của vùng lãnh thổ theo khung thời gian đủ dài cũng như lộ trình để đạt được các mục tiêu đó. Một bản quy hoạch tốt sẽ đóng vai trò như lộ trình chỉ dẫn, giúp các nhà lãnh đạo đưa ra quyết định sáng suốt về những yếu tố cần thiết để người dân - cũng như nền kinh tế địa phương - phát triển thịnh vượng và bền vững.
Lập quy hoạch thực chất là quá trình suy tính trước khi hành động diễn ra. Quá trình này đòi hỏi tư duy logic và khả năng đưa ra quyết định một cách hợp lý theo các chức năng/phương thức/đặc điểm như:
1.Chức năng quản lý: Lập quy hoạch là chức năng quản lý đầu tiên và quan trọng nhất, tạo nền tảng cho các chức năng quản lý khác như tổ chức, bố trí nhân sự, chỉ đạo và kiểm soát trong khuôn khổ của các quy hoạch đã đề ra.
2.Hướng tới mục tiêu: Hoạt động này tập trung vào việc xác định mục tiêu cần đạt được, nhận diện các phương án hành động khác nhau và quyết định quy hoạch hành động phù hợp nhất để đạt được các mục tiêu đó.
3.Tính bao trùm: Lập quy hoạch mang tính bao trùm vì nó hiện diện ở mọi bộ phận và cần thiết ở mọi cấp độ của tổ chức, mặc dù phạm vi lập quy hoạch có thể khác nhau.
4.Quy trình liên tục: Các quy hoạch thường được lập cho một giai đoạn cụ thể. Khi kết thúc giai đoạn đó, các quy hoạch mới sẽ được xây dựng. Do đó, đây là một quy trình diễn ra liên tục: các quy hoạch được xây dựng, thực hiện và sau đó tiếp nối bằng một quy hoạch khác.
5.Quy trình trí tuệ: Đây là hoạt động tư duy đòi hỏi sự vận dụng trí óc để suy nghĩ, dự báo, hình dung một cách sáng suốt và luôn đổi mới, v.v.
6.Hướng tới tương lai: Trong quá trình lập quy hoạch, phải hướng tầm nhìn về tương lai. Hoạt động này bao gồm việc xem xét, phân tích và dự báo tương lai để có thể đối mặt hiệu quả với những thách thức có thể xảy ra.
7.Ra quyết định: Quy hoạch phải đưa ra được các quyết định liên quan đến việc lựa chọn phương án hành động tối ưu nhằm đạt được mục tiêu. Phương án được chọn phải là phương án được đánh giá là tốt nhất trong số các lựa chọn, mang lại ít hệ quả tiêu cực và nhiều kết quả tích cực nhất.
Thực ra, nói quy hoạch là nói chung còn trong thực tế người ta có thể phân loại thành một số quy hoạch có tính chất riêng, chẳng hạn các quy hoạch chiến lược xác định đích đến, làm rõ trạng thái tương lai mong muốn còn các quy hoạch tổng thể (master plans) chi tiết hóa những bước hành động và phương thức triển khai theo từng giai đoạn cần thiết để đạt được viễn cảnh tương lai đó, qua đó cung cấp một lộ trình toàn diện cho quá trình thực hiện. Trong LQH, cũng chia thành một số loại QH nhưng có thể 2 dạng quy hoạch trên được ghép thành một, nghĩa là quy hoạch phải vừa xác định rõ đích đến, mục tiêu cần đạt được vừa hoạch định các hoạt động, bước đi, phương thức đạt được mục tiêu đặt ra,
Một khái niệm/định nghĩa quy hoạch khác lột tả được khá đầy đủ nội dung quy hoạch phát triển, đó là Quy hoạch phát triển được coi là quy trình then chốt để đạt được sự tăng trưởng bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, đòi hỏi việc áp dụng các chiến lược thúc đẩy phát triển bền vững, phân bổ nguồn lực hợp lý và triển khai thực hiện hiệu quả. Nắm vững các yếu tố cốt lõi của quy hoạch phát triển, xây dựng các chính sách hiệu quả và huy động sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình thực thi có thể đạt được các mục tiêu phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Từ đó, có thể phân tích thêm một số điểm liên quan như:
Định hướng rõ ràng cho sự phát triển: Đảm bảo phân bổ nguồn lực hiệu quả; Thúc đẩy sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các bên liên quan; Nâng cao trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong quản lý nhà nước; Thúc đẩy phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.
Xác định được các Thành phần Chính của Quy hoạch Phát triển: Tuyên bố tầm nhìn và sứ mệnh, làm rõ khát vọng và mục tiêu phát triển; Phân tích/đánh giá được tình hình phát triển hiện tại, các thách thức và cơ hội của lãnh thổ quy hoạch; Xác định được mục tiêu và chiến lược phát triển, chú trọng các lĩnh vực trọng tâm và chiến lược để đạt được mục tiêu phát triển; Lập được các chương trình và dự án, các sáng kiến cụ thể để triển khai nhằm đạt được mục tiêu phát triển; Xây dựng được khung giám sát và đánh giá với hệ thống theo dõi tiến độ và đánh giá hiệu quả của quy hoạch phát triển. Sơ đồ dưới đây minh họa các thành phần chính của quy hoạch phát triển quốc gia:

Vai trò của các bên liên quan trong quy trình lập quy hoạch (Các cơ quan và tổ chức Nhà nước; Các tổ chức xã hội dân sự; Các đơn vị thuộc khu vực tư nhân; Các đối tác phát triển; Cộng đồng/Người dân là những bên liên quan chính cần được tham gia/phản biện/góp ý/đánh giá cả khi lập và thực hiện quy hoạch).
Việc lập quy hoạch phát triển hiệu quả đòi hỏi phải áp dụng các chiến lược thúc đẩy phát triển bền vững, phân bổ nguồn lực hợp lý và triển khai thực hiện hiệu quả. Một số chiến lược then chốt bao gồm:
-Xác định rõ mục tiêu và các ưu tiên là yếu tố thiết yếu để lập quy hoạch phát triển hiệu quả. Quá trình này bao gồm:
-Nhận diện các thách thức và cơ hội phát triển trọng tâm (Thiết lập các mục tiêu đảm bảo tính cụ thể, có thể đo lường, khả thi, phù hợp và có thời hạn hoàn thành).
-Ưu tiên các sáng kiến phát triển dựa trên tác động tiềm năng và tính khả thi của chúng
-Phân bổ nguồn lực hiệu quả. Việc phân bổ nguồn lực hiệu quả đóng vai trò then chốt đối với công tác lập quy hoạch phát triển. Quá trình này bao gồm: Đánh giá các nguồn lực hiện có (tài chính, nhân lực, công nghệ, v.v.); Phân bổ nguồn lực dựa trên các mục tiêu phát triển đã được ưu tiên; Đảm bảo nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả và tối ưu.
-Theo dõi và Đánh giá Tiến độ, đây là những thành phần thiết yếu của công tác lập quy hoạch phát triển hiệu quả, bao gồm: Thiết lập khung theo dõi và đánh giá; Theo dõi tiến độ so với các mục tiêu phát triển; Đánh giá hiệu quả và tác động của các sáng kiến phát triển; Điều chỉnh quy hoạch phát triển khi cần thiết.
-Quy trình theo dõi và đánh giá theo sơ đồ:

-Triển khai các chính sách phát triển, đây là bước then chốt để đạt được các mục tiêu phát triển lãnh thổ. Nó bao gồm việc xây dựng các chính sách hỗ trợ mục tiêu phát triển, huy động sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình thực thi, cũng như giải quyết những thách thức và trở ngại nảy sinh trong quá trình đó.
-Xây dựng các chính sách hỗ trợ mục tiêu phát triển, chính sách này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển quốc gia. Để các chính sách hiệu quả cần phải: Phù hợp với các mục tiêu phát triển quốc gia; Dựa trên bằng chứng, dữ liệu và các kết quả nghiên cứu; Mang tính bao trùm và đáp ứng được nhu cầu của người dân; Linh hoạt và có khả năng thích ứng với những thay đổi của hoàn cảnh.
-Huy động sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình triển khai chính sách, đây là yếu tố cốt yếu để triển khai chính sách hiệu quả, bao gồm: Xác định các bên liên quan chủ chốt và vai trò của họ trong việc triển khai chính sách; Xây dựng quan hệ đối tác và sự hợp tác với các bên liên quan; Đảm bảo các bên liên quan được thông tin đầy đủ và tham gia vào quy trình triển khai chính sách; Thúc đẩy văn hóa minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quá trình triển khai chính sách.
-Giải quyết các thách thức và trở ngại trong quá trình thực thi chính sách với một số thách thức phổ biến bao gồm: Nguồn lực hạn chế (tài chính, nhân lực, công nghệ, v.v.); Hạn chế về năng lực thể chế; Sự phản kháng đối với thay đổi từ các bên liên quan; Các yếu tố bên ngoài (ví dụ: cú sốc kinh tế, thiên tai). Để giải quyết những thách thức này, có thể: Xây dựng các quy hoạch dự phòng và chiến lược quản lý rủi ro; Nâng cao năng lực thể chế thông qua các chương trình đào tạo và phát triển năng lực; Thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo và thử nghiệm; Thực hiện giám sát và đánh giá thường xuyên để kịp thời nhận diện và giải quyết các thách thức.
Thực ra, nắm vững và vận hành tốt lý thuyết quy hoạch không phải dễ nhưng nếu thực hiện đúng những điểm nêu trên cũng sẽ giúp người lập và thực hiện quy hoạch có thể xây dựng được bản quy hoạch tốt và thực hiện chúng có hiệu quả, đạt được các mục tiêu đặt ra.

Hiện tại chúng tôi đã tiếp cận được Quyết định số 2468/QĐ-UBND ngày ngày 31 tháng 12 năm 2025 (sau đây gọi là QĐ2468) của Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ: Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050(sau đây gọi là QHPT). Như vậy, chỉ sau sát nhập 6 tháng tỉnh đã có quyết định quan trọng này. Điều đó chứng tỏ lãnh đạo tỉnh đã nhận thức được sự cần thiết, tầm quan trọng và sự dẫn dắt, tính tiên phong của quy hoạch này. Tuy nhiên, đây là quyết định “một sốnội dung chủ yếu”, chưa phải bản quy hoạch đầy đủ (không rõ đã có chưa nhưng chúng tôi không tiếp cận được qua mạng). Vì vậy, dưới đây xin trình bày/bàn luận/suy ngẫm về một số điểm chính trong QĐ2468 có so sánh với các quy hoạch đã có của 3 tỉnh trước sát nhập.
Nhìn chung về quan điểm phát triển và mục tiêu tổng quát, QHPT không khác nhiều so với quy hoạch tỉnh Phú Thọ cũ (QHPTc), quy hoạch tỉnh Vĩnh Phúc cũ (QHVPc) và quy hoạch tỉnh Hòa Bình cũ (QHHBc) nhưng các mục tiêu cụ thể có sự khác biệt.
Trước hết là mục tiêu cụ thể đến năm 2030 trong được nêu dưới đây còn mục tiêu cụ thể của 3 quy hoạch cũ được cho trong ngoặc, in nghiêng để dễ so sánh.
- Về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu đạt khoảng 11 -12%/năm (QHPTc: bình quân thời kỳ 2021-2030 đạt từ 10,5%/năm trở lên, QHVPc: thời kỳ 2021 - 2030 đạt khoảng từ 10,5 - 11,0%/năm, QHHBc:bình quân thời kỳ 2021 - 2030 đạt 9%/năm); quy mô tổng sản phẩm (GRDP) phấn đấu cao gấp hơn 2 lần so với năm 2025; GRDP bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt khoảng 220 - 230 triệu đồng (QHPTc: năm 2030 đạt 6.000 - 6.200 USD, QHVPc: năm 2030 đạt khoảng 325 triệu đồng, QHHBc: Đến năm 2030: GRDP bình quân đầu người là 168 - 170 triệu đồng).
Như vậy QHPT đã chính thức đưa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 vào thực hiện trong quy hoạch, đặc biệt là mục tiêu tốc độ tăng trưởng và GRDP bình quân đầu người.
Chúng tôi không rõ cách tính các con số trong QHPT nhưng có thể thấy độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn của Phú Thọ sau sát nhập cao hơn so với 3 tỉnh trước sát nhập. Có lẽ trong bản quy hoạch đầy đủ sẽ giúp mọi người hiểu hơn về các giá trị quy hoạch và tin tưởng hơn về khả năng đạt được mục tiêu này. Trong 3 tỉnh sát nhập, có thể thấy Vĩnh Phúc cũ có mức thu nhập đầu người cao nhất và quy hoạch đến năm 2030 cũng ở mức cao hơn QHPT. Tuy nhiên, hai tỉnh còn lại có quy hoạch giá trị này ở mức thấp hơn nhưng khi sát nhập toàn tỉnh Phú Thọ sẽ hợp lực phấn đấu để đạt được mức đặt ra trong QHPT.
Nhìn vào biểu đồ trên Hình 1 có thể thấy chệnh lệch giá trị GRDP bình quân đầu người của 3 tỉnh trước khi sát nhập khá lớn. Giá trị của Vĩnh Phúc cũ lớn nhất với mức gấp đôi giá trị của Hòa Bình trong khoảng thời gian 2019-2024. Đây là điều cần phải tính đến trong quá trình thực hiện quy hoạch để chênh lệch theo khu vực sẽ dần được san lấp.

Hình 1. Biểu đồ GRDP bình quân đầu người của 3 tỉnh trước sát nhập.
Tỷ trọng trong GRDP của khu vực dịch vụ đạt khoảng 36,3% (QHPTc: 33 - 35%, QHHBc: khoảng 34%); công nghiệp - xây dựng khoảng 55,4% (QHPTc: 48 - 50%, QHHBc: khoảng 47%); nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 8,3% (QHPTc: 12 - 14%, QHHBc: khoảng 15%) ; kinh tế số đạt trên 30% GRDP. Một số thông số không đồng bộ của các tỉnh không được liệt kê và đây cũng là khoảng trống về số liệu.
Việc khác biệt về cơ cấu các ngành của QHPT so với quy hoạch 3 tỉnh trước sát nhập cũng dễ hiểu nhưng rất cần chỉ ra cơ sở khoa học khi đưa ra chỉ tiêu và nguồn lực có thể huy động. Thực hiện được các điều này sẽ làm tăng khả năng thực thi trong quá trình thực hiện quy hoạch.
- Về xã hội
Nhìn chung những tiêu chí xã hội đưa ra trong QHPT trùng khớp với mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới: Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,78; chỉ số phát triển và hạnh phúc (VDHI) đạt tối thiểu 85 điểm, thuộc ngưỡng tỉnh phát triển khá cao và hạnh phúc; tuổi thọ bình quân đạt 76 tuổi; Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia đạt trên 95%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80 - 85%; Tỷ lệ thất nghiệp từ 0,9 - 1,1%; Thu nhập bình quân đầu người trên 8,7 triệu đồng/tháng; Số bác sĩ/vạn dân phấn đấu đạt 19 bác sĩ; số giường bệnh/vạn dân đạt 50 giường bệnh. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế phấn đấu đạt 100%; Đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025); Tỷ lệ xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới phấn đấu đạt trên 85%.
- Về bảo vệ môi trường
Các mục tiêu/tiêu chí về BVMT không có gì khác so với mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
- Về quốc phòng - an ninh
Về phần này, trong QHPT nêu gọn hơn so với Nghị quyết Đảng bộ tỉnh, cụ thể: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với đảm bảo quốc phòng - an ninh; ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội”. Theo chúng tôi, điều này cần làm rõ hơn vì địa bàn Phú Thọ cần phải được an toàn cả đối với những khía cạnh khác như nêu trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, đặc biệt là an toàn xã hội, an toàn môi trường và giảm tệ nạn xã họi,…
Chúng tôi rất ấn tượng với tầm nhìn đến năm 2050: Phú Thọ phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với rất nhiều thành tựu đạt được về kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, người dân có chất lượng cuộc sống cao, hạnh phúc. Có lẽ đây là điểm nhấn quan trọng của QHPT mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I chưa đề cập tới.
Trong QHPT, chúng tôi thấy kinh tế xanh được nêu trong các mục về các đột phát triển: “Chú trọng phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, vi mạch bán dẫn”. Trong mục về Các nhiệm vụ trọng tâm kinh tế xanh cũng được đề cập: “Có cơ chế chính sách khuyến khích, thu hút, đào tạo và nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành kinh tế mới”. Trong mục Phương hướng phát triển ngành nông, lâm, thủy sản có đề cập: “Tổ chức liên kết theo chuỗi từ bảo vệ, trồng rừng, sử dụng đến chế biến lâm sản, trồng dược liệu để nâng cao giá trị rừng, tham gia thị trường tín chỉ carbon, tạo nguồn thu ổn định cho cộng đồng địa phương và gia tăng giá trị kinh tế cho sản phẩm nông, lâm nghiệp, gắn phát triển lâm nghiệp với du lịch sinh thái, kinh tế xanh, kinh tế dưới tán rừng”. Và, trong Phương án phát triển nông thôn đã đề xuất: “Bảo đảm cân bằng quỹ đất sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái theo định hướng tăng trưởng xanh, nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn”. Đây là điều đáng mừng vì một nền kinh tế tiên tiến như kinh tế xanh được áp dụng để thực hiện QHPT trong nhiều lĩnh vực.
Đặc biệt, QHPT đã xác định những lĩnh vực mũi nhọn, lĩnh vực cần ưu tiên rất xác đáng. Chẳng hạn như Phát triển du lịch Phú Thọ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh theo hướng "Dịch vụ chất lượng - Sản phẩm khác biệt - Hiệu quả bền vững" hay “chú trọng đầu tư cho các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn: trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, dữ liệu lớn, tự động hóa và chuyển đổi số”.

Có nhiều lĩnh vực được ưu tiên trong QHPT, đáng chú ý như Ưu tiên thu hút các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đáp ứng các ngành có thể mạnh của tỉnh; Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ vận tải, kho bãi, logistics hiện đại. Trong Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Ưu tiên nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chú trọng đầu tư cho các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn: trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, dữ liệu lớn, tự động hóa và chuyển đổi số. Đặc biệt, lĩnh vực An sinh xã hội sẽ ưu tiên trợ giúp trẻ em đặc biệt khó khăn để hòa nhập cộng đồng và trong Phương án phát triển những khu vực khó khăn, đặc biệt khó khăn sẽ “Ưu tiên phát triển các điểm du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch ở tại nhà dân (home stay) tại các vùng sâu, vùng xa, các vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn nhưng có điều kiện phù hợp về cảnh quan thiên nhiên và đặc trưng văn hóa gắn liền với sinh kế” và
“- Ưu tiên sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ; ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông kết nối khu vực khó khăn với các vùng phát triển kinh tế năng động của tỉnh.
- Duy trì hoạt động các nhánh tuyến đường sắt và ưu tiên đầu tư nâng cấp các ga trên tuyến”.
Trong phát triển Đường thủy nội địa và cảng hay Phương án phát triển năng lượng và mạng lưới cấp điện cũng như Phương án phát triển mạng lưới thông tin và truyền thông đều có những ưu tiên để có thể phát triển nhanh và bền vững.
Liên quan tới các quy hoạch môi trường, chúng tôi rất ấn tượng với những ưu tiên về Khu nghĩa trang: “Ưu tiên xây dựng tại các vùng đồi gò, xa khu dân cư, có quỹ đất lớn để tiếp nhận mộ phần di dời từ đô thị”. Viết đến đây, tôi nhớ tới hai nghĩa trang rất lớn được xây dựng ở tỉnh Phú Thọ, đó là nghĩa trang Thiên Đức, được xây dựng theo mô hình sinh thái, du lịch tâm linh lớn nhất tại Miền Bắc, được đánh giá là 1 trong những công viên nghĩa trang tâm linh đẹp nhất cả nước và nghĩa trang xanh mang tên Lạc Hồng Viên, một siêu công viên thuộc huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình cũ, sát trục đường quốc lộ 6, cách trung tâm Hà Nội chừng 50 km và thành phố Hòa Bình 20km. Đây là 2 nghĩa trang mà nhiều người Hà Nội biết, người già mơ ước được an táng khi được về với tổ tiên. Trong khi nhiều khu vực rất nhạy cảm với việc xây dựng nghĩa trang thì việc có tới 2 nghĩa trang lớn ở tỉnh Phú Thọ rất đáng được ghi nhận.
Tỉnh Phú Thọ cũng là nơi chịu ảnh hưởng nhiều của thiên tai nên trong QHPT đã đưa ra nhiều phương án phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. QHPT đã có Phân vùng rủi ro đối với từng loại thiên tai trên địa bàn tỉnh và xác định các khu vực ưu tiên phòng chống đối với từng loại thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới và nắng nóng, mưa lớn, dông lốc và sét, lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt (do lũ sông, do mưa lớn), hạn hán, rét đậm, rét hại và sương mù,… Đến đây tôi nhớ lại vụ sập cầu Phong Châu được xác định do bão Yagi khiến mưa lũ, nước sông dâng, chảy xiết, dẫn đến thay đổi địa hình dưới cầu, kéo đổ trụ T7 và làm sập hai nhịp cầu. Quả thật, với một tỉnh như Phú Thọ thì các ưu tiên này rất hữu ích giúp giảm thiệt hại do thiên tai gây ra.

Những mục tiêu phát triển của tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập được đặt ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 và Quyết định số 2468/QĐ-UBND ngày ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ: Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau đây gọi là QHPT) cho thấy quyết tâm cao của lãnh đạo tỉnh nhằm đưa Phú Thọ trở thành tỉnh có kinh tế phát triển, xã hội ổn định, cuộc sống nhân dân không ngừng được nâng cao.

Vẫn còn một số băn khoăn như, có cần xây dựng QHPT với đầy đủ các nội dung quy định trong LQH hay QHPT được phê duyệt và 3 quy hoạch các tỉnh khi chưa sát nhập là đủ. Đặc biệt, phải làm rõ hơn khả năng huy động nguồn lực phục vụ thực hiện quy hoạch qua phân tích các nguồn tự nhiên, nguồn nhân lực hiện có cùng khả năng huy động nguồn vốn quốc gia, quốc tế. Chỉ khi ấy tính khả thi của thực hiện quy hoạch mới được mọi người tin tưởng và tham gia thực hiện.
GS.TS Hoàng Xuân Cơ
Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam
Kỳ tiếp theo: Kinh tế tuần hoàn – Lời giải cho bài toán sử dụng nguồn lực

