'Quán ăn giấu mặt' trên nền tảng số sắp hết đất sống
Chỉ vài thao tác trên điện thoại, một phần cơm trưa, ly đồ uống hay suất ăn đêm có thể được giao tận cửa. Nhưng phía sau những “quán ăn số” ấy là câu hỏi: Căn bếp ở đâu, ai chịu trách nhiệm và thực phẩm đã được bảo quản, vận chuyển thế nào?
Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi đang được Bộ Y tế lấy ý kiến, với đề xuất bổ sung quy định quản lý cơ sở kinh doanh thực phẩm bằng phương thức điện tử.
Theo dự thảo, cơ sở kinh doanh thực phẩm phải công khai hoặc cung cấp trên nền tảng các thông tin nhận diện, địa điểm kinh doanh, hồ sơ pháp lý và cam kết đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm.

Với những cơ sở chỉ phục vụ giao hàng, dự thảo đặt vấn đề phải thể hiện rõ đặc điểm này để người tiêu dùng có thể nhận biết. Ảnh: Thu Hà
Từ “quán ăn số” đến câu chuyện trách nhiệm
Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam cho rằng, việc bổ sung quy định là cần thiết trong bối cảnh dịch vụ giao đồ ăn phát triển nhanh.
Theo bác sĩ Hoàng, an toàn thực phẩm không chỉ được quyết định tại thời điểm món ăn rời khỏi căn bếp mà là kết quả của cả một chuỗi, từ nguyên liệu, sơ chế, chế biến, đóng gói đến bảo quản và vận chuyển.
Mỗi nhóm thực phẩm cũng có yêu cầu bảo quản khác nhau. Thịt, cá, trứng, hải sản, rau sống hay thực phẩm chế biến sẵn nếu không được bảo quản đúng cách đều có thể phát sinh nguy cơ. Đặc biệt, việc không tách biệt thực phẩm sống và chín có thể làm tăng nguy cơ nhiễm chéo.

Rủi ro không dừng lại ở căn bếp. Trong quá trình giao hàng, thời gian chờ tài xế, thời gian di chuyển, nhiệt độ môi trường và điều kiện bảo quản đều có thể tác động đến chất lượng, an toàn của món ăn. Ảnh: Lan Anh
“Bản thân mô hình không xấu, nhiều cơ sở vận hành chuyên nghiệp, tối ưu chi phí mặt bằng và phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, rủi ro có thể xuất hiện khi một cơ sở hoạt động thiếu điều kiện vệ sinh, thiếu thông tin nhận diện hoặc khó xác định trách nhiệm khi có phản ánh về chất lượng món ăn”, bác sĩ Hoàng nói.
Các yêu cầu quản lý trên không đơn thuần nhằm tạo thêm thủ tục cho người kinh doanh. Vấn đề quan trọng là khi xảy ra dấu hiệu ngộ độc hoặc có phản ánh nghi ngờ thực phẩm không bảo đảm an toàn, cơ quan chức năng phải xác định được món ăn chế biến ở đâu, đơn vị nào chịu trách nhiệm, nguyên liệu đến từ nguồn nào và còn khả năng truy xuất hay không.
Đây là điểm khác biệt đáng chú ý giữa một cửa hàng truyền thống và mô hình kinh doanh thực phẩm trên môi trường số.
Nếu khách hàng mua món ăn tại một địa chỉ cố định, việc xác định cơ sở chế biến, người kinh doanh và địa điểm hoạt động tương đối rõ ràng. Trong khi đó, với một “quán ăn” chỉ hiện diện trên nền tảng trực tuyến, người mua có thể đặt món mà không biết đầy đủ căn bếp phía sau nằm ở đâu, quy mô thế nào hay thực phẩm được chế biến, bảo quản ra sao.
“An toàn thực phẩm không được bảo đảm bằng việc tạo ra nhiều giấy phép hơn, mà phải bằng chuẩn an toàn rõ hơn, dữ liệu tốt hơn, hậu kiểm mạnh hơn và trách nhiệm không thể né tránh”, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định.
Nền tảng không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán
Cục An toàn thực phẩm ( Bộ Y tế) cho biết, dự thảo lần này bổ sung các quy định nhằm tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh thực phẩm trên môi trường thương mại điện tử, trong đó có giao đồ ăn trực tuyến.
Theo cơ quan soạn thảo, nội dung dự thảo được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quản lý của một số quốc gia có nền thương mại điện tử phát triển, đồng thời lấy ý kiến các bộ, ngành, hiệp hội và ngành hàng liên quan.
Điểm đáng chú ý là dự thảo hướng tới việc xác định trách nhiệm cụ thể của các chủ thể tham gia vào quá trình kinh doanh, cung cấp và giao thực phẩm trên nền tảng trực tuyến.

Các nền tảng cũng được đặt yêu cầu thiết lập kênh tiếp nhận, theo dõi và xử lý phản ánh, kiến nghị liên quan đến thực phẩm được kinh doanh trên nền tảng. Ảnh: Shopee Food
Tùy theo hình thức hoạt động, trách nhiệm của người kinh doanh, chủ sàn thương mại điện tử, đơn vị và người giao hàng được quy định tương ứng.
Đối với sàn thương mại điện tử, trách nhiệm không chỉ được đặt ra khi sàn trực tiếp kinh doanh thực phẩm mà còn trong trường hợp nền tảng đóng vai trò trung gian kết nối người bán với người mua.
Như vậy, bài toán quản lý không chỉ nằm ở việc xác định ai bán món ăn, mà còn mở rộng sang cách thức nền tảng quản lý thông tin của người bán, tiếp nhận phản ánh và phối hợp xử lý khi có vấn đề phát sinh.
Khoảng trống lớn nhất có thể nằm sau nút “Đặt món”
Với thực phẩm bán trực tuyến, bác sĩ Hoàng cho rằng, việc xác định danh tính người kinh doanh mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là phải kiểm soát được điều kiện thực tế phía sau thông tin được công khai trên nền tảng.
Một cơ sở có thể được nhận diện trên ứng dụng nhưng điều đó không đồng nghĩa người tiêu dùng biết được thực phẩm được chế biến ở đâu, nguồn nguyên liệu thế nào hoặc quá trình vận chuyển có đáp ứng yêu cầu hay không.
Đặc biệt với các món ăn chế biến sẵn, khoảng thời gian từ khi hoàn thành món ăn đến khi đến tay khách hàng có thể kéo dài tùy khoảng cách, lượng đơn và điều kiện vận chuyển.
Vì vậy, khi thương mại điện tử ngày càng trở thành một kênh phân phối thực phẩm phổ biến, việc đưa hoạt động này vào khuôn khổ quản lý an toàn thực phẩm sẽ không chỉ là câu chuyện của một ứng dụng hay một nhà hàng.
