Quan điểm 'dân là gốc' nâng tầm cao mới trong Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng
Mọi thắng lợi đều bắt nguồn từ sức dân, lòng dân và trí tuệ của nhân dân. Phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là điều kiện quyết định để các quyết sách của Đại hội 14 đi vào cuộc sống.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Người nhấn mạnh: Nhân dân là chủ thể của cách mạng, là sức mạnh to lớn, có khả năng sáng tạo vô tận; “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

Các đại biểu dự Đại hội 14. Ảnh: Phạm Hải
Đại hội 14 của Đảng đã nâng lên tầm cao mới quan điểm “dân là gốc”. Báo cáo chính trị trình Đại hội 14 xác định: “Tăng cường củng cố, phát huy hiệu quả sức mạnh của nhân dân và khối đoàn kết toàn dân tộc” là bài học kinh nghiệm quý mang tầm lý luận và có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng rút ra 5 bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ 3 là quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân.
Qua 40 năm đổi mới càng thấy rõ hơn rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Củng cố và phát huy sức mạnh này là chìa khóa để Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Hơn nữa, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, coi trọng nhân dân của dân tộc ta là sự kế thừa tư tưởng "dân là gốc". Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử.
Trong báo cáo về các văn kiện trình Đại hội 14 của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định “dân là gốc” là thước đo cao nhất của mọi quyết sách. "Dân là gốc" là tư tưởng xuyên suốt trong văn kiện và cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam.
Niềm tin của nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp.
Bước vào giai đoạn mới, càng phải chăm lo xây dựng thế trận lòng dân. Thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; thế trận lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng. Thế trận lòng dân vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hóa giải, đúng như Bác Hồ đã dạy “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, sự hài lòng của người dân làm thước đo thành công của phát triển. Cần bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu tối thượng.
Khát vọng “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” phải được hiện thực hóa bằng việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phát triển kinh tế phải gắn chặt với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, nhà ở, phúc lợi xã hội, quan tâm hơn nữa đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đối tượng yếu thế, phát triển văn hóa, con người Việt Nam toàn diện, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, nhân văn, kỷ cương.
Phát huy thực sự quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực
Mọi chủ trương, đường lối, quyết sách chiến lược của Đảng phải trên cơ sở vận dụng, phát triển sáng tạo các quy luật khách quan, phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống và định hướng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng quan trọng hơn là sự đồng tình, ủng hộ và thực hiện của nhân dân.
Muốn vậy thì ngay từ khi hoạch định chủ trương, đường lối, quyết sách của Đảng, cần có sự tham gia thực chất của nhân dân. Bởi vì, nếu tham gia thực chất từ khi Đảng xây dựng, hoạch định chủ trương, đường lối, quyết sách, nhân dân sẽ thấu hiểu ngay từ đầu, việc thực hiện sẽ hiệu quả hơn, chủ trương, đường lối, quyết sách của Đảng sẽ nhanh đi vào cuộc sống hơn…
Đồng thời, cần thực hiện có hiệu quả, thực chất hơn nữa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, trong đó cần chú trọng tất cả 6 khâu vì 6 khâu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chú ý tới 2 khâu mới được bổ sung là “dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Phương châm này cho thấy, Đảng ta không chỉ chú trọng, đặt nhân dân vào trung tâm các quyết sách của mình mà còn luôn tạo điều kiện để nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.
Để các tầng lớp nhân dân đều thấy mình có trách nhiệm và quyền lợi gắn với Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng, cần phát huy thực sự quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và có cơ chế để nhân dân phát huy tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tự tin, tự lực, tự cường thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng.
Mỗi người dân cần nêu cao ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, đóng góp hết sức mình vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, mọi thắng lợi đều bắt nguồn từ sức dân, lòng dân và trí tuệ của nhân dân. Phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là điều kiện quyết định để các quyết sách của Đại hội 14 đi vào cuộc sống.











