Quan hệ lao động hài hòa là nền tảng của ổn định xã hội và phát triển bền vững

Tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031, ngày 4.6.2026, bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh một thông điệp có ý nghĩa sâu sắc: Trong kỷ nguyên phát triển mới, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ không chỉ là yêu cầu của tổ chức Công đoàn, mà còn là nền tảng quan trọng để giữ vững ổn định xã hội, nâng cao năng suất, củng cố niềm tin của người lao động và bảo đảm phát triển bền vững của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026 – 2031. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026 – 2031. Ảnh: TTXVN

Hài hòa lợi ích là điều kiện để doanh nghiệp phát triển, người lao động yên tâm và xã hội ổn định

Trong bài phát biểu tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề quan hệ lao động trong một tầm nhìn rất rộng: Đó không chỉ là quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong từng doanh nghiệp, mà còn là một cấu phần quan trọng của ổn định xã hội và phát triển đất nước. Một nền kinh tế muốn đi nhanh, đi xa, đi bền vững không thể để những mâu thuẫn lao động âm ỉ tích tụ; không thể để đời sống công nhân còn quá nhiều khó khăn; không thể để tiếng nói chính đáng của người lao động không được lắng nghe đầy đủ.

Thông điệp rất rõ trong bài phát biểu là: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động phải được xử lý hài hòa. Doanh nghiệp cần phát triển, cần lợi nhuận, cần sức cạnh tranh; người lao động cần việc làm, thu nhập, an toàn, phúc lợi, cơ hội học tập và đời sống ổn định; Nhà nước cần môi trường phát triển lành mạnh, trật tự xã hội ổn định, nguồn nhân lực chất lượng và niềm tin của nhân dân. Ba lợi ích ấy không đối lập nhau nếu được đặt trong một cơ chế đối thoại, thương lượng, tôn trọng pháp luật và chia sẻ trách nhiệm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: “Doanh nghiệp phát triển thì người lao động phải có việc làm, thu nhập và điều kiện sống tốt hơn. Người lao động yên tâm, gắn bó, sáng tạo thì doanh nghiệp mới phát triển bền vững”. Đây là một luận điểm rất quan trọng, vì nó vượt qua cách nhìn giản đơn cho rằng chăm lo người lao động là gánh nặng của doanh nghiệp. Ngược lại, chăm lo người lao động chính là đầu tư cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

Một người lao động có đời sống ổn định sẽ yên tâm làm việc hơn. Một công nhân được bảo đảm an toàn lao động sẽ gắn bó hơn với dây chuyền, nhà máy. Một người lao động được trả lương xứng đáng, được đóng bảo hiểm đầy đủ, được đào tạo nâng cao kỹ năng sẽ có năng suất tốt hơn, trách nhiệm cao hơn, khả năng sáng tạo nhiều hơn. Một môi trường làm việc có đối thoại, tôn trọng, minh bạch sẽ giảm nguy cơ tranh chấp, đình công, gián đoạn sản xuất, từ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí xã hội và nâng cao uy tín.

Vì vậy, trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định rất sâu sắc: “Đầu tư cho người lao động chính là đầu tư cho năng suất, thương hiệu và sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp”. Đây là một quan niệm hiện đại về phát triển. Trong kỷ nguyên mới, doanh nghiệp không thể cạnh tranh bền vững chỉ bằng lao động giá rẻ hay khai thác tối đa sức lao động. Sức cạnh tranh thật sự phải đến từ năng suất, chất lượng, đổi mới sáng tạo, tiêu chuẩn lao động, trách nhiệm xã hội và văn hóa doanh nghiệp.

Quan hệ lao động hài hòa, vì thế, không chỉ là tránh tranh chấp. Đó là tạo dựng một môi trường trong đó người lao động cảm thấy mình được tôn trọng, doanh nghiệp cảm thấy mình được đồng hành, Nhà nước bảo đảm được kỷ cương pháp luật và xã hội giữ được sự ổn định. Khi người lao động có niềm tin, họ sẽ gắn bó. Khi doanh nghiệp có sự đồng thuận của người lao động, doanh nghiệp sẽ vững vàng hơn trước biến động thị trường. Khi quan hệ lao động ổn định, đất nước có thêm nền tảng để thu hút đầu tư, nâng cao năng suất và phát triển bền vững.

Trong thực tiễn, nhiều mâu thuẫn lao động không bắt đầu từ những vấn đề quá lớn, mà từ những điều tưởng nhỏ: Bữa ăn ca chưa bảo đảm, thời gian tăng ca chưa hợp lý, tiền lương chậm, môi trường làm việc thiếu an toàn, kiến nghị không được phản hồi, quy định nội bộ chưa minh bạch, cách ứng xử thiếu tôn trọng. Nếu những điều ấy được lắng nghe, đối thoại và giải quyết kịp thời, chúng sẽ không trở thành điểm nóng. Nhưng nếu bị bỏ qua, chúng có thể tích tụ thành bức xúc, làm tổn thương niềm tin của người lao động, ảnh hưởng đến sản xuất, doanh nghiệp và trật tự xã hội.

Bởi vậy, bài phát biểu nhấn mạnh yêu cầu “phòng ngừa tranh chấp từ sớm, từ cơ sở”. Đây là một cách tiếp cận rất đúng. Trong quản trị hiện đại, xử lý khủng hoảng không bao giờ tốt bằng phòng ngừa khủng hoảng. Hòa giải sau tranh chấp không bao giờ hiệu quả bằng đối thoại trước khi mâu thuẫn bùng phát. Công đoàn, chính quyền, doanh nghiệp cần tạo ra cơ chế để người lao động nói lên tiếng nói chính đáng của mình một cách an toàn, có trách nhiệm và được lắng nghe.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ rõ: “Phản ánh của công nhân phải được lắng nghe trước khi trở thành bức xúc. Mâu thuẫn nhỏ phải được giải quyết trước khi tích tụ thành điểm nóng”. Câu nói ấy không chỉ đúng với quan hệ lao động, mà còn có ý nghĩa rộng hơn đối với quản trị xã hội. Một xã hội ổn định không phải là xã hội không có mâu thuẫn, mà là xã hội có khả năng nhận diện, lắng nghe, đối thoại và giải quyết mâu thuẫn trong trật tự, bằng pháp luật, bằng trách nhiệm và bằng sự tôn trọng con người.

Ở đây, vai trò của Công đoàn trở nên đặc biệt quan trọng. Công đoàn là tổ chức đại diện, chăm lo, bảo vệ người lao động. Nhưng Công đoàn không chỉ bảo vệ khi quyền lợi bị xâm phạm, mà phải chủ động tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa ngay từ đầu. Công đoàn phải nắm được tâm tư của người lao động, phát hiện sớm nguy cơ tranh chấp, tham gia thương lượng tập thể, thúc đẩy đối thoại tại nơi làm việc, bảo vệ cái đúng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của công nhân, đồng thời góp phần xây dựng môi trường sản xuất ổn định, kỷ luật và nhân văn.

Một Công đoàn mạnh không phải là Công đoàn chỉ biết phản ứng khi có vụ việc. Công đoàn mạnh là Công đoàn có khả năng phòng ngừa. Công đoàn mạnh là Công đoàn làm cho tiếng nói của người lao động được lắng nghe trước khi bức xúc xuất hiện. Công đoàn mạnh là Công đoàn giúp doanh nghiệp hiểu rằng chăm lo người lao động không làm suy yếu doanh nghiệp, mà làm doanh nghiệp phát triển bền vững hơn. Công đoàn mạnh là Công đoàn góp phần biến đối thoại thành văn hóa, thương lượng thành kỹ năng, hài hòa lợi ích thành nền tảng của phát triển.

Bắt đầu từ đối thoại, pháp luật, văn hóa doanh nghiệp và năng lực đại diện của Công đoàn

Để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, trước hết phải xây dựng được cơ chế đối thoại thực chất tại nơi làm việc. Đối thoại không phải là thủ tục hình thức, không phải là cuộc họp định kỳ chỉ để ghi biên bản, càng không phải là nơi người lao động nói mà không có chuyển động chính sách. Đối thoại phải là cơ chế để các bên cùng lắng nghe, cùng chia sẻ thông tin, cùng nhận diện vấn đề và cùng tìm giải pháp phù hợp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Công đoàn phải nâng cao năng lực đối thoại tại nơi làm việc, phòng ngừa tranh chấp từ sớm, từ cơ sở. Điều đó đòi hỏi Công đoàn cơ sở phải thật sự gần người lao động. Không gần công nhân thì không hiểu được nỗi lo của công nhân. Không hiểu được nỗi lo thì không đại diện đúng. Không đại diện đúng thì đối thoại khó có sức nặng. Vì vậy, cán bộ Công đoàn cơ sở phải nghe được tiếng nói của công nhân, nói được tiếng nói của công nhân và dám bảo vệ công nhân bằng pháp luật, bằng đối thoại và bằng trách nhiệm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu chụp ảnh chung. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu chụp ảnh chung. Ảnh: TTXVN

Cùng với đối thoại là yêu cầu thượng tôn pháp luật lao động. Một quan hệ lao động hài hòa không thể được xây dựng trên sự tùy tiện. Doanh nghiệp phải tôn trọng pháp luật lao động, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, đóng bảo hiểm đầy đủ, thực hiện đúng các cam kết về tiền lương, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, phúc lợi và điều kiện lao động. Người lao động cũng cần nâng cao ý thức pháp luật, kỷ luật lao động, trách nhiệm nghề nghiệp và tinh thần hợp tác. Công đoàn phải là cầu nối để pháp luật đi vào đời sống, để quyền và nghĩa vụ của các bên được hiểu đúng, thực hiện đúng.

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, tiêu chuẩn lao động, trách nhiệm xã hội, môi trường làm việc an toàn, bình đẳng, nhân văn ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc. Một doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào thị trường quốc tế không thể xem nhẹ quyền lợi người lao động. Một quốc gia muốn nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu không thể dựa mãi vào lợi thế lao động giá rẻ. Chất lượng quan hệ lao động chính là một phần của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Do đó, xây dựng quan hệ lao động hài hòa cũng là xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp không chỉ nằm ở khẩu hiệu treo trên tường, mà thể hiện trong cách doanh nghiệp đối xử với người lao động; cách lắng nghe kiến nghị; cách giải quyết mâu thuẫn; cách chia sẻ thành quả; cách bảo đảm an toàn; cách tổ chức bữa ăn ca; cách chăm lo nhà ở, y tế, trường học cho con công nhân; cách tạo cơ hội để người lao động học tập, nâng cao kỹ năng và tiến bộ.

Một doanh nghiệp có văn hóa là doanh nghiệp hiểu rằng người lao động không phải là công cụ sản xuất, mà là chủ thể tạo ra giá trị. Một doanh nghiệp văn minh là doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến lợi nhuận ngắn hạn, mà còn quan tâm đến sự phát triển lâu dài của con người. Một doanh nghiệp có trách nhiệm là doanh nghiệp biết rằng sự hài lòng, gắn bó và sáng tạo của người lao động chính là nền móng của năng suất, chất lượng và thương hiệu.

Bên cạnh đó, Nhà nước và chính quyền các cấp phải tiếp tục hoàn thiện chính sách về tiền lương, bảo hiểm, nhà ở công nhân, thiết chế văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, an toàn lao động, y tế cơ sở và an sinh xã hội. Quan hệ lao động hài hòa không thể chỉ dựa vào thiện chí của từng doanh nghiệp hay nỗ lực riêng lẻ của Công đoàn. Nó cần một hệ sinh thái chính sách đồng bộ, trong đó người lao động được bảo vệ bằng pháp luật, được hỗ trợ bằng chính sách, được lắng nghe bằng cơ chế đối thoại và được phát triển bằng cơ hội học tập, nâng cao kỹ năng.

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/quan-he-lao-dong-hai-hoa-la-nen-tang-cua-on-dinh-xa-hoi-va-phat-trien-ben-vung-234281.html