Quản lý hàng nhập khẩu: Tăng kiểm soát, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

Dự thảo Thông tư về danh mục hàng nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập là bước cụ thể hóa yêu cầu tăng cường quản lý đối với các mặt hàng có rủi ro cao. VCCI đồng tình với định hướng của Bộ Tài chính, đồng thời cho rằng việc xác định rõ phạm vi hàng hóa và giảm ùn tắc và hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ.

Hoàn thiện danh mục, bảo đảm đúng đối tượng quản lý

Góp ý dự thảo Thông tư quy định danh mục hàng hóa nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập do Bộ Tài chính xây dựng, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá việc tăng cường kiểm soát hàng hóa có rủi ro cao, hàng hóa liên quan đến an ninh, quốc phòng và hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là cần thiết. Đây là cơ sở quan trọng để cơ quan hải quan chủ động nhận diện, phân luồng và kiểm tra các nhóm hàng cần quản lý chặt chẽ.

Quản lý hàng nhập khẩu: Tăng kiểm soát, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Ảnh: CTV

Quản lý hàng nhập khẩu: Tăng kiểm soát, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Ảnh: CTV

Theo VCCI, dự thảo quy định trường hợp chỉ liệt kê mã hàng 4 số thì toàn bộ các mã 8 số thuộc nhóm đó đều được áp dụng. Cách tiếp cận này tạo thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống nhận diện và phân luồng tự động, giúp cơ quan hải quan triển khai thống nhất trong thực tế. Đồng thời, việc rà soát thêm mối liên hệ giữa mã số và mô tả hàng hóa sẽ góp phần nâng cao độ chính xác khi áp dụng.

Cụ thể, mục 4 của danh mục mô tả “xe ô tô chở người dưới 16 chỗ ngồi” và liệt kê nhóm mã 8702. Đối với nhóm rượu, dự thảo đưa nhóm 2207 vào danh mục, bao gồm cồn etylic chưa biến tính và cồn đã biến tính. Đây là những nhóm hàng cần được nhận diện rõ để cơ quan quản lý có thể kiểm soát hiệu quả nguy cơ sử dụng sai mục đích, đồng thời phân biệt với nguyên liệu phục vụ sản xuất hóa chất, dược phẩm, chất sát khuẩn và nhiên liệu sinh học.

VCCI chia sẻ mục tiêu kiểm soát cồn etylic nồng độ cao nhằm phòng ngừa nguy cơ sử dụng để pha chế rượu không bảo đảm an toàn. Trong đó, cồn chưa biến tính thuộc phân nhóm 2207.10 là nhóm cần được chú trọng. Cồn đã biến tính thuộc phân nhóm 2207.20 được bổ sung chất biến tính, có đặc điểm sử dụng khác và cần được cơ quan quản lý xem xét trong tổng thể cơ chế kiểm soát nguyên liệu nhập khẩu.

Tương tự, việc đưa các nhóm tàu khách, phà phục vụ vận tải thương mại, thuyền mái chèo, ca nô và thuyền bơm hơi phục vụ thể thao, cứu hộ vào diện theo dõi cho thấy dự thảo đang tiếp cận theo hướng chủ động nhận diện các phương tiện có đặc điểm, công dụng khác nhau. Việc phân loại cụ thể sẽ giúp bảo đảm kiểm soát đúng các nhóm phương tiện thuộc phạm vi chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và các nhóm hàng có liên quan.

VCCI cho rằng việc chi tiết hóa danh mục đến mã 8 số sẽ giúp Bộ Tài chính nâng cao tính minh bạch và khả năng áp dụng thống nhất. Cách làm này cho phép phân biệt rõ nhóm xe chở người dưới 16 chỗ, cồn etylic chưa biến tính thuộc phân nhóm 2207.10 và các loại phương tiện có đặc điểm, công dụng khác nhau.

Đối với nguyên liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất dược phẩm, hóa chất và nhiên liệu sinh học, việc làm rõ cơ chế áp dụng sẽ giúp cơ quan hải quan kiểm soát đúng mục tiêu, đồng thời tạo cơ sở để doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ, chứng từ chứng minh mục đích sử dụng. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro và yêu cầu kiểm soát theo mục đích sử dụng hàng hóa.

Đối với tàu thuyền, việc xác định cụ thể các mã 8 số tương ứng với du thuyền thuộc phạm vi chịu thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ giúp tăng độ chính xác trong quản lý, đồng thời phân biệt với phương tiện vận tải thương mại, thuyền phục vụ thể thao và cứu hộ.

VCCI cũng đề xuất bổ sung nguyên tắc hàng hóa thuộc danh mục khi đồng thời có mã số được liệt kê và phù hợp với mô tả hàng hóa tương ứng. Theo VCCI, nguyên tắc này sẽ hỗ trợ doanh nghiệp dễ dự liệu nghĩa vụ, đồng thời giúp hệ thống hải quan phân luồng chính xác hơn trên cơ sở kết hợp mã số với thông tin khai báo về số chỗ ngồi, nồng độ cồn và loại phương tiện.

Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng quản lý hiện đại, trong đó mã số hàng hóa, tên hàng, đặc tính và công dụng được sử dụng kết hợp để nhận diện đối tượng quản lý. Việc xem xét đồng bộ với dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Hải quan cũng sẽ góp phần bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.

Linh hoạt địa điểm làm thủ tục, giảm áp lực cửa khẩu

Bên cạnh việc hoàn thiện danh mục, VCCI đánh giá tích cực việc dự thảo thiết kế cơ chế làm thủ tục ngoài cửa khẩu nhập đối với một số nhóm hàng phù hợp. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm yêu cầu kiểm soát, vừa tạo điều kiện phát huy vai trò của cảng cạn, kho ngoại quan và hệ thống logistics nội địa.

Dự thảo cho phép một số trường hợp làm thủ tục ngoài cửa khẩu nhập, trong đó có hàng hóa phục vụ gia công, sản xuất, chế xuất và hàng đưa vào khu phi thuế quan, kho ngoại quan. Quy định này giúp cơ quan hải quan tập trung nguồn lực vào các nhóm hàng có rủi ro, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tổ chức vận chuyển, lưu kho và sản xuất.

Việc yêu cầu lô hàng chung vận đơn có lẫn hàng thuộc danh mục phải làm thủ tục tại cửa khẩu nhập cũng góp phần bảo đảm khả năng kiểm soát xuyên suốt đối với hàng hóa từ thời điểm nhập khẩu. Đây là cơ chế cần thiết để hạn chế nguy cơ tách, chuyển hoặc đưa hàng hóa ra khỏi khu vực giám sát khi chưa hoàn tất thủ tục.

Trong quá trình triển khai, việc kết hợp quy định này với cơ chế tách vận đơn theo quy định sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong tổ chức lô hàng, đồng thời vẫn bảo đảm phần hàng thuộc danh mục được kiểm tra, giám sát tại cửa khẩu nhập. Phần hàng còn lại có thể được xử lý theo địa điểm và thủ tục phù hợp, trên cơ sở tuân thủ đầy đủ quy định hải quan.

VCCI cũng đánh giá cao định hướng áp dụng cơ chế linh hoạt đối với doanh nghiệp ưu tiên và doanh nghiệp được đánh giá tuân thủ tốt. Việc cho phép các doanh nghiệp này làm thủ tục tại cơ quan hải quan nơi có trụ sở, cơ sở sản xuất, kho của doanh nghiệp hoặc tại cảng cạn nội địa, với điều kiện hàng hóa chịu sự giám sát và niêm phong theo quy định, sẽ khuyến khích doanh nghiệp nâng cao mức độ tuân thủ.

Quản lý bằng niêm phong, giám sát hành trình trên hệ thống và đánh giá mức độ tuân thủ giúp cơ quan hải quan kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn mà không nhất thiết phải tập trung toàn bộ hoạt động tại cửa khẩu. Đây là giải pháp phù hợp với xu hướng chuyển từ kiểm tra thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro.

Đối với cảng cạn, việc dự thảo ghi nhận trường hợp vận đơn có cảng đích là cảng cạn cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của các trung tâm logistics nội địa trong chuỗi thông quan. Việc áp dụng theo tiêu chí chung đối với các cảng cạn đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan sẽ tạo cơ sở mở rộng mạng lưới địa điểm làm thủ tục, đồng thời bảo đảm tính minh bạch và thống nhất.

Nhìn chung, dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính đang tiếp cận theo hướng tăng cường kiểm soát đúng trọng tâm, kết hợp quản lý rủi ro với tạo thuận lợi thương mại.

Việc xác định rõ danh mục hàng hóa, ứng dụng mã số và mô tả hàng hóa trong phân luồng, cùng với cơ chế thủ tục linh hoạt cho doanh nghiệp tuân thủ tốt, sẽ góp phần bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan, giảm áp lực tại cửa khẩu và nâng cao hiệu quả lưu thông hàng hóa xuất nhập khẩu.

Song Linh

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/quan-ly-hang-nhap-khau-tang-kiem-soat-tao-thuan-loi-cho-doanh-nghiep-206042.html