Quản lý hiệu quả internet vệ tinh

Sự xuất hiện của dịch vụ internet vệ tinh Starlink mang lại những giải pháp mới trong việc bảo đảm phủ sóng internet đến những vùng xa xôi, hiểm trở của đất nước. Tuy nhiên, việc lần đầu tiên có một doanh nghiệp nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ internet vệ tinh đặt ra những yêu cầu quản lý hiệu quả từ cơ quan chức năng.

Starlink được thí điểm tối đa 600.000 thuê bao

Từ tháng 2-2026, dịch vụ internet vệ tinh Starlink của Tập đoàn SpaceX (Hoa Kỳ) chính thức được cấp phép triển khai thí điểm tại Việt Nam với 4 trạm mặt đất, đặt ở Đà Nẵng, Phú Thọ và TP Hồ Chí Minh (2 trạm). Theo quy định, thời gian thí điểm dịch vụ Starlink từ nay đến năm 2031 với số lượng thuê bao tối đa là 600.000 thuê bao.

Với việc sử dụng các vệ tinh tầm thấp để kết nối và truyền tín hiệu từ trên cao, Starlink được kỳ vọng sẽ tạo thêm những lựa chọn và giải pháp trong việc kết nối dữ liệu, từ đó cung cấp dịch vụ tại những khu vực mà hạ tầng truyền thống khó tiếp cận như vùng biển, vùng trời, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt trong việc ứng cứu sự cố. Mặt khác, khi xảy ra thiên tai như bão lụt, động đất, cháy rừng thì hạ tầng viễn thông mặt đất (cáp quang, trạm phát sóng di động) thường chịu nhiều tác động dẫn đến hư hại. Khi đó, Starlink cung cấp một giải pháp thay thế nhanh chóng, cho phép các lực lượng chức năng hoặc chính người dân thiết lập lại kết nối internet chỉ trong thời gian ngắn.

Thiết bị internet vệ tinh Starlink trong lần thử nghiệm tại Hòa Lạc, Hà Nội (năm 2023). Ảnh: LƯU QUÝ

Thiết bị internet vệ tinh Starlink trong lần thử nghiệm tại Hòa Lạc, Hà Nội (năm 2023). Ảnh: LƯU QUÝ

Vì vậy, xét về mặt kỹ thuật, Starlink được xác định là mảnh ghép bổ sung cho hệ sinh thái hạ tầng số tại Việt Nam. Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, Starlink là dịch vụ mới lần đầu triển khai, giúp mở ra không gian phát triển với các loại hình kinh doanh mới. Những mô hình, không gian mới như vậy sẽ đóng góp trực tiếp vào việc thúc đẩy kinh tế xã hội, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước.

Tuy nhiên, song song với tiềm năng và cơ hội, lần đầu tiên một doanh nghiệp nước ngoài được thí điểm dịch vụ internet vệ tinh tại Việt Nam cũng đặt ra nhiều băn khoăn về những tác động liên quan đến người dân và doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là việc quản lý hiệu quả để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong ngành viễn thông.

Tăng cường giám sát, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh

Đối với người dân, sự xuất hiện của Starlink mang lại cơ hội được tiếp cận internet mọi lúc, mọi nơi mà không phụ thuộc vào điều kiện địa hình. Từ biên cương đến hải đảo, từ thành thị đến vùng sâu, vùng xa, tất cả đều có thể được phủ sóng internet bằng Starlink.

Nhưng, vấn đề nằm ở mức giá. Để sử dụng Starlink, người dùng cần mua thiết bị thu phát tín hiệu vệ tinh và đăng ký thuê bao. Hệ thống sau khi lắp đặt sẽ kết nối trực tiếp với vệ tinh để cung cấp internet theo hình thức trọn gói, không giới hạn dung lượng. Dự kiến người dùng tại Việt Nam sẽ phải chi trả khoảng 400-450USD (10-11 triệu đồng) cho tháng đầu tiên, bao gồm chi phí thiết bị và thuê bao. Từ những tháng tiếp theo, phí duy trì hằng tháng khoảng 80-85USD (hơn 2 triệu đồng). Trong khi đó, giá internet cáp quang tại Việt Nam hiện phổ biến chỉ từ khoảng 180.000 đồng/tháng (gói cơ bản) đến 500.000 đồng/tháng (gói tốc độ cao). Như vậy, chi phí sử dụng Starlink cao hơn khá nhiều so với dịch vụ cáp quang, đồng nghĩa với việc Starlink chưa thể là loại hình internet phổ biến với người dùng.

Thực tế cũng cho thấy, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số người dùng cho biết đã sử dụng Starlink tại Việt Nam, nhưng phần lớn là thiết bị sử dụng trái phép, có thể đến từ việc đăng ký ở nước ngoài sau đó mang về Việt Nam. Người dân cần lưu ý, mặc dù dịch vụ Starlink đã được cấp phép nhưng chưa công bố thời gian triển khai cụ thể, vì vậy cần cảnh giác để tránh bị lừa đảo hoặc tham gia sử dụng dịch vụ trái phép.

Ở góc độ doanh nghiệp, đánh giá tác động của Starlink đến ngành viễn thông trong nước, theo đồng chí Nguyễn Anh Cương, Phó cục trưởng Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ), Starlink hiện được triển khai tại Việt Nam theo hình thức thí điểm với quy mô, phạm vi và thời gian đều có giới hạn. Số lượng thuê bao tối đa là 600.000 thuê bao, chỉ chiếm số nhỏ-hơn 2% tổng số thuê bao internet cố định. Trong thực tế, lượng thuê bao Starlink có thể còn ít hơn. Do đó, tác động của Starlink đến thị trường viễn thông trong nước được đánh giá không lớn.

Phó cục trưởng Cục Viễn thông Nguyễn Anh Cương nhấn mạnh, sau khi được cấp phép, Starlink hoạt động như một doanh nghiệp viễn thông và phải tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam về viễn thông, bao gồm cả quy định về quản lý giá. Giá cước Starlink phải được xây dựng trên cơ sở giá thành, bảo đảm công khai, minh bạch. Cơ quan quản lý sẽ theo dõi sát quá trình triển khai. Trường hợp doanh nghiệp điều chỉnh giá, đặc biệt là giảm giá, có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh, cơ quan chức năng có thể áp dụng biện pháp kiểm soát, thậm chí đình chỉ việc ban hành giá cước theo quy định. Mục tiêu là bảo đảm các doanh nghiệp hoạt động trên cùng một mặt bằng pháp lý, duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường viễn thông.

HOÀNG CHUNG

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/quan-ly-hieu-qua-internet-ve-tinh-1035544