Quản lý, khai thác bền vững nguồn lực khoáng sản
Những đổi mới trong pháp luật về địa chất và khoáng sản đang tạo điều kiện cho khai thác, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, nhất là đáp ứng nhu cầu vật liệu cho xây dựng hạ tầng. Tuy nhiên, để nguồn lực này phát huy hiệu quả, vẫn cần tiếp tục tháo gỡ vướng mắc, quản lý chặt và khai thác bền vững.

Hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường tại Tuyên Quang. (Ảnh: KHÁNH TOÀN)
Bài 1: Tăng hiệu quả khai thác khoáng sản
Khoáng sản là nguồn lực quan trọng cho phát triển, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vật liệu cho hạ tầng ngày càng tăng. Tuy nhiên, việc khai thác nguồn lực này đang đặt ra yêu cầu phải đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh tế, kỷ cương quản lý và trách nhiệm môi trường.
Gỡ vướng thủ tục, siết chặt đấu giá
Kể từ sau Pháp lệnh Tài nguyên khoáng sản năm 1989, Việt Nam đã ba lần xây dựng, hoàn thiện Luật Khoáng sản vào các năm 1996, 2005 và 2010. Mỗi lần sửa đổi Luật đều gắn với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho quản lý, khai thác và sử dụng khoáng sản.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản số 147/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, cùng với Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 ban hành trước đó, đã tạo bước chuyển trong điều tra, quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên khoáng sản và tháo gỡ điểm nghẽn về nguồn cung vật liệu xây dựng.
Theo ông Mai Thế Toản, Phó Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản, luật mới thể hiện sự điều chỉnh cách tiếp cận đối với một nguồn lực đặc biệt của quốc gia, từ cách tiếp cận “cấp phép rồi hậu kiểm” sang quản lý tài nguyên theo toàn bộ vòng đời, từ điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác đến đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường.
Một điểm mới đáng chú ý là việc phân loại khoáng sản thành 4 nhóm (I, II, III, IV) theo mức độ chiến lược và quy mô khai thác. Cùng với đó là áp dụng các cơ chế "không" để cắt giảm tối đa thủ tục hành chính trong cấp phép: Đối với khoáng sản nhóm III (Vật liệu xây dựng thông thường): Áp dụng cơ chế "6 không" gồm: Không phải căn cứ phương án quản lý khoáng sản trong quy hoạch tỉnh; không thực hiện thủ tục chủ trương đầu tư; không thẩm định báo cáo ĐTM, giấy phép môi trường; không đấu giá quyền khai thác; không thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất; không thực hiện trình tự chuyển mục đích sử dụng rừng. Đối với khoáng sản nhóm IV: Áp dụng cơ chế “7 không” bao gồm đầy đủ các ưu đãi của nhóm III và bổ sung việc không phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép thăm dò. Đối với các mỏ đang hoạt động: Cho phép nâng công suất khai thác (không tăng trữ lượng) theo cơ chế “2 không” là không điều chỉnh chủ trương đầu tư và không thẩm định lại môi trường.
Thực tiễn tại địa phương cho thấy, khung pháp lý mới đã bắt đầu tạo ra những chuyển động cụ thể. Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cao Bằng Nguyễn Mạnh Hùng, địa phương đang triển khai cơ chế sử dụng đất đá thải mỏ, đất đá thải từ các dự án xây dựng làm vật liệu san lấp, đắp nền cho công trình giao thông trọng điểm. Hướng đi này cho thấy tư duy tận dụng tài nguyên, biến chất thải thành tài nguyên, qua đó giảm áp lực bãi thải, bổ sung nguồn cung cho xây dựng. Địa phương cũng tiếp tục đẩy mạnh đấu giá quyền khai thác và tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy định về môi trường, an toàn lao động, đóng cửa mỏ sau khai thác.
Ông Mai Thế Toản cho biết thêm, đấu giá là công cụ then chốt để minh bạch hóa tiếp cận tài nguyên. Vì vậy, định hướng trọng tâm là hoàn thiện danh mục khu vực đấu giá trên cơ sở có đủ dữ liệu địa chất, tránh tình trạng đấu giá “mù”; ràng buộc chặt về tiến độ, năng lực, ký quỹ và chế tài sau đấu giá; đồng thời phối hợp địa phương chuẩn hóa quy trình để hạn chế phát sinh khiếu kiện. Ngoài ra, nhằm ngăn hiện tượng “đấu giá xong để đó”, Luật đã đưa ra nhiều giải pháp để chỉ có những doanh nghiệp chứng minh được tiềm lực tài chính mới được quyền tham gia đấu giá; áp dụng cơ chế xử lý nghiêm các trường hợp đầu cơ thông qua việc tịch thu tiền đặt cọc và hủy quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá nếu doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ sau đấu giá.
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
Cùng với cải cách thủ tục, luật mới cũng đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho địa phương.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao thêm thẩm quyền trong cấp phép một số nhóm khoáng sản, thu hồi khoáng sản khi thực hiện dự án đầu tư trong khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, phê duyệt hoặc điều chỉnh khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng thời được giao trách nhiệm kiểm soát, giám sát các hoạt động khoáng sản trên địa bàn để tránh khoảng trống giữa trung ương và địa phương. Việc quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo sản lượng khai thác thực tế và giao thẩm quyền cho Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố thực hiện đã bảo đảm thu đúng, thu đủ nghĩa vụ tài chính trong khai thác tài nguyên, hạn chế tình trạng thất thu ngân sách hoặc tính toán chưa sát thực tế.
Theo ông Mai Thế Toản, Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 đã xác lập rõ các nguyên tắc hoạt động khoáng sản và quy định về kỹ thuật, an toàn trong khai thác, bảo vệ môi trường, quản lý rủi ro, nhất là trong khai thác mỏ hầm lò, cùng với các điều kiện về năng lực tài chính đối với doanh nghiệp.
Có thể nói, đây là một rào cản lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ hoặc nguồn lực hạn chế, nhưng cũng là yêu cầu cần thiết để sàng lọc nhà đầu tư ngay từ đầu thông qua hệ tiêu chí về năng lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm; ràng buộc ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường và trách nhiệm sau khai thác; đồng thời hạn chế cấp phép cho các dự án khai thác ngắn hạn, tận thu thiếu bền vững.
Còn tại tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2021-2025, các đơn vị hoạt động khoáng sản trên địa bàn đã nộp ngân sách hơn 10.785 tỷ đồng, tăng 55,5% so với giai đoạn 2016-2020, cho thấy khoáng sản vẫn là một cấu phần quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Nhưng cùng với đóng góp ngân sách, yêu cầu đặt ra là phải siết chặt hơn việc thẩm định hồ sơ, tổ chức khai thác đúng thiết kế, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và gắn chặt với bảo vệ môi trường.
Theo ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, tỉnh đã ban hành Đề án 09-ĐA/TU ngày 10/12/2025 về tăng cường quản lý, khai thác hiệu quả đất, nước và khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững giai đoạn 2026-2030. Đề án đặt ra yêu cầu rõ hơn để đến năm 2030, 100% việc cấp phép phải phù hợp quy hoạch; đấu giá quyền khai thác theo quy định, khai thác đúng thiết kế mỏ, hoàn thành công trình bảo vệ môi trường trước khi đưa mỏ vào hoạt động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính.
Một thay đổi đáng chú ý khác khi luật mới ban hành là yêu cầu cao hơn ở khâu đóng cửa mỏ. Luật đã phân loại bốn trường hợp đóng cửa mỏ và thiết lập cơ chế quản lý tương ứng theo thứ bậc.
Để tránh tình trạng làm hình thức, giải pháp được đặt ra là chuẩn hóa tiêu chí kỹ thuật cải tạo, phục hồi môi trường; xem xét kỹ phương án cải tạo, phục hồi môi trường trong báo cáo đánh giá tác động môi trường và thiết kế mỏ; xác định đúng, đủ số tiền phải ký quỹ; tăng cường hậu kiểm; áp dụng chế tài mạnh đối với trường hợp không cải tạo, phục hồi môi trường thực chất.
Quy định này cho thấy cách tiếp cận mới không dừng ở khâu khai thác, mà buộc doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trọn vẹn với toàn bộ vòng đời dự án...
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/quan-ly-khai-thac-ben-vung-nguon-luc-khoang-san-post958491.html











