Quản lý mỹ phẩm ở Việt Nam: Cần xác lập ranh giới rõ ràng giữa mỹ phẩm và thuốc

Từ so sánh quốc tế, Việt Nam được khuyến nghị chuyển trọng tâm sang hậu kiểm, chuẩn hóa hồ sơ và giám sát quảng cáo số.

Mới đây, tại chương trình tập huấn liên quan tới mỹ phẩm, Viện Kiểm nghiệm thuốc TPHCM (Bộ Y tế) đã mời PGS.TS Lê Văn Truyền – Chuyên gia cao cấp (dược học), nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, chia sẻ trực tuyến nhiều khía cạnh về "Quản lý mỹ phẩm trên thế giới và ở Việt Nam".

Theo PGS.TS Lê Văn Truyền, quản lý mỹ phẩm đang đối mặt nhiều thách thức khi thị trường tăng trưởng nhanh, quảng cáo số bùng nổ và tình trạng "công bố vượt rào" ngày càng phổ biến. Trong đó, vấn đề cốt lõi là xác lập ranh giới rõ ràng giữa mỹ phẩm và thuốc để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

PGS.TS Lê Văn Truyền chia sẻ trực tuyến tại chương trình tập huấn liên quan tới mỹ phẩm.

PGS.TS Lê Văn Truyền chia sẻ trực tuyến tại chương trình tập huấn liên quan tới mỹ phẩm.

Theo định nghĩa của US FDA (Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ), mỹ phẩm chỉ nhằm làm sạch, làm đẹp, tăng sức hấp dẫn hoặc thay đổi diện mạo bên ngoài; không được điều trị, phòng bệnh hay tác động đến cấu trúc – chức năng cơ thể. Nếu có, sản phẩm sẽ bị phân loại lại và quản lý như thuốc. EU và ASEAN cũng thống nhất quan điểm này, đồng thời kiểm soát rất chặt nội dung công bố công dụng (claim), yêu cầu dựa trên chứng cứ khoa học, không gây nhầm lẫn với thuốc.

Trên thế giới hiện tồn tại ba mô hình quản lý chính. Hoa Kỳ không tiền kiểm nhưng hậu kiểm rất mạnh, xử phạt và thu hồi nghiêm. EU được coi là "tiêu chuẩn vàng", dựa trên quản lý rủi ro theo vòng đời sản phẩm, hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF), chuyên gia đánh giá an toàn và hệ thống cảnh giác mỹ phẩm. ASEAN áp dụng cơ chế hài hòa nội khối, hậu kiểm là chính, doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về an toàn và công bố.

Việt Nam đang áp dụng mô hình ASEAN, tham khảo EU, song khâu hậu kiểm và kiểm soát claim còn hạn chế, đặc biệt trên các nền tảng số. Nhiều sản phẩm đăng ký là mỹ phẩm nhưng quảng cáo với các cụm từ mang bản chất điều trị như "trị mụn", "diệt vi khuẩn", "kháng viêm", "ngừa ung thư da", "tái tạo tế bào", "sửa chữa DNA"…

Theo PGS.TS Lê Văn Truyền, đây là những nội dung vượt quá phạm vi mỹ phẩm. Tại EU, các claim này bị cấm tuyệt đối và có thể dẫn đến thu hồi; tại Hoa Kỳ, sản phẩm sẽ bị phân loại lại và quản lý như thuốc.

Từ so sánh quốc tế, chuyên gia đề xuất Việt Nam chuyển trọng tâm từ tiền kiểm hình thức sang hậu kiểm hiệu quả, tập trung vào kiểm soát claim và hoạt động tiếp thị số. Các giải pháp then chốt gồm: chuẩn hóa PIF theo hướng tiệm cận EU; đào tạo và công nhận chuyên gia đánh giá an toàn; xây dựng hệ thống báo cáo phản ứng có hại của mỹ phẩm; tăng chế tài với hành vi quảng cáo sai; ứng dụng AI để giám sát nội dung quảng cáo trực tuyến.

Theo PGS.TS Lê Văn Truyền, hoàn thiện khung pháp lý quản lý mỹ phẩm không chỉ bảo vệ người tiêu dùng mà còn tạo "sân chơi" công bằng cho doanh nghiệp nghiêm túc, đồng thời mở đường cho mỹ phẩm "made in Viet Nam" tiếp cận các thị trường khó tính.

Đỗ Bá

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/quan-ly-my-pham-o-viet-nam-can-xac-lap-ranh-gioi-ro-rang-giua-my-pham-va-thuoc-169260114162811919.htm