Quản trị nguồn lực quốc gia, kiến tạo kỷ nguyên phát triển mới

Tròn 80 năm sau Tuyên ngôn Độc lập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu toàn diện, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Bước vào kỷ nguyên mới, quản trị hiệu quả các nguồn lực quốc gia được xem là chìa khóa để hiện thực hóa khát vọng phát triển thịnh vượng và bền vững.

Cách đây tròn 80 năm, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tuyên ngôn Độc lập đã khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử, mở ra kỷ nguyên Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Sự kiện này thực sự mang tầm vóc vĩ đại, làm thăng hoa dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại.

Kể từ đó, trải qua 30 năm xây dựng nền dân chủ cộng hòa và kháng chiến vĩ đại bảo vệ đất nước, dân tộc ta đã thống nhất giang sơn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, cùng với lệnh cấm vận kinh tế của phương Tây trong khoảng 10 năm sau đó, đã khiến công cuộc xây dựng Tổ quốc chỉ có thể bắt đầu thực sự cách đây khoảng 4 thập kỷ.

Sau gần 40 năm Đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều kết quả toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, góp phần đưa kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ và nâng cao vị thế quốc gia chưa từng có trên trường quốc tế. Hiện nay, GDP Việt Nam đạt trên 475 tỷ USD, đứng thứ 33 thế giới và nằm trong tốp 5 quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất. Đồng thời, Việt Nam từ vị thế là “đối tượng” đã trở thành “chủ thể” tham gia giải quyết các vấn đề an ninh toàn cầu, khi hai lần đảm nhận vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Sau gần 40 năm Đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều kết quả toàn diện, có ý nghĩa lịch sử. Ảnh: Quang Thái

Sau gần 40 năm Đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều kết quả toàn diện, có ý nghĩa lịch sử. Ảnh: Quang Thái

Liên quan đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vẫn còn quan điểm cho rằng do vị trí địa chính trị đặc thù, chiến tranh tàn phá, thiên tai khắc nghiệt, nên nước ta gặp nhiều khó khăn trong phát triển, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, cách tiếp cận đó chưa nhận thức đầy đủ về các nguồn lực phát triển - yếu tố quyết định sức mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế cho thấy ngày càng có sự đồng thuận về mô hình 5 nguồn lực, được coi là vận dụng sáng tạo bài học “dựng nước đi đôi với giữ nước”.

Muốn phát triển bền vững, tiến tới một xã hội phồn vinh, phải quản trị, huy động và sử dụng hiệu quả, đồng thời làm gia tăng 5 nguồn vốn cơ bản: tài chính, xã hội, sản phẩm, con người và tài nguyên (nguồn lực thường bị cạn kiệt bởi sản xuất). Nói cách khác, phải chủ động quản trị tốt các nguồn lực quốc gia.

Theo các nhà kinh tế, để đạt mục tiêu tối thượng này, cần một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, bao gồm bốn nội dung cơ bản:

Qủan trị kinh tế bền vững. Quản trị hiệu quả nguồn lực phải gắn với quy hoạch tốt nhằm nâng cao 5 loại vốn thay vì làm suy giảm. Đây cần là nội dung cốt lõi trong chiến lược, quy hoạch tổng thể quốc gia của Chính phủ, từ Trung ương tới địa phương và cả cộng đồng doanh nghiệp. Nhờ đó, chúng ta có thể phát triển kinh tế nhất quán, tránh được lãng phí, tham nhũng, quan liêu, đồng thời đạt hiệu quả quy mô (economies of scale).

Chủ động phát huy nguồn lực. Trong 5 nguồn lực, chỉ có “con người” và “xã hội” có khả năng chủ động thúc đẩy sự phát triển. Quản trị tốt hai nguồn lực này chính là điểm khác biệt lớn nhất giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển. Trong đó, nguồn vốn con người là tài sản quý giá nhất.

Về nguồn lực con người, cần khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, nuôi dưỡng lực lượng doanh nhân nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây là cách giải phóng khát vọng vươn lên, thúc đẩy xã hội hàng hóa phát triển mạnh mẽ. Đồng thời, phải xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh trung thực, liêm chính, trách nhiệm xã hội, gắn với bản sắc dân tộc và tinh hoa thế giới, mang khát vọng xây dựng đất nước hùng cường.

Việt Nam từ vị thế là “đối tượng” đã trở thành “chủ thể” tham gia giải quyết các vấn đề an ninh toàn cầu. Ảnh: Nguyễn Hưởng

Việt Nam từ vị thế là “đối tượng” đã trở thành “chủ thể” tham gia giải quyết các vấn đề an ninh toàn cầu. Ảnh: Nguyễn Hưởng

Về nguồn lực xã hội, đó là nền tảng cho sự văn minh và chất lượng phát triển, thông qua đoàn kết, đổi mới thể chế và gắn kết chính trị - xã hội. Giải Nobel Kinh tế năm 2024 trao cho Daron Acemoglu, Simon Johnson và James A. Robinson cũng khẳng định vai trò thể chế đối với sự thịnh vượng quốc gia. Ở Việt Nam, đổi mới thể chế kinh tế nông nghiệp trong thập niên 1980 đã giúp đất nước chuyển từ thiếu đói sang thừa nông sản, mở đầu quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới xây dựng và thực thi pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW, tinh gọn bộ máy từ Trung ương đến địa phương, nâng cao hiệu quả vận hành nguồn lực xã hội.

Hội nhập kinh tế quốc tế. Nâng cấp và làm sâu sắc quan hệ đối ngoại, đặc biệt qua các hiệp định kinh tế song phương và đa phương, không chỉ mở rộng thị trường mà còn đưa Việt Nam hội nhập ở mức chất lượng cao. Đây là “đòn bẩy kép”: vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa định vị Việt Nam là đối tác tin cậy, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, gắn với thực hiện Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Phát triển khoa học, công nghệ. Quản trị kinh tế đất nước ngày nay phải đạt hai mục tiêu: nâng cao năng suất lao động và chất lượng sống người dân. Cách mạng Công nghiệp 4.0 và 5.0, với trọng tâm là công nghệ AI và chuỗi cung ứng hiện đại, chính là cơ hội tạo ra nguồn sản phẩm công nghệ cao, bao gồm cả sản phẩm lưỡng dụng phục vụ kinh tế và quốc phòng.

Tiêu chuẩn công nghệ không chỉ nâng cao sức cạnh tranh mà còn củng cố vốn xã hội thông qua niềm tin, hợp tác và chia sẻ tri thức. Khi sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn đã thiết lập, người tiêu dùng có nhiều khả năng tin tưởng vào sản phẩm và thương hiệu, dẫn đến kết nối xã hội mạnh mẽ hơn và cảm giác hạnh phúc tập thể. Điều này có thể chuyển thành vốn xã hội gia tăng trong cộng đồng và thậm chí trên toàn cầu.

Khoa học và công nghệ ngày nay đang thực sự là cơ hội cho việc tăng nhanh năng suất và chất lượng sống của toàn dân, do đó cần xây dựng, phát triển một xã hội với môi trường tiến bộ, tự do, bình đẳng và dân chủ để làm nền tảng đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia như Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.

Triển khai tốt các chiến lược trên, chúng ta chắc chắn sẽ thực hiện trọn vẹn lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Quan trọng hơn, sẽ đưa dân tộc ta, khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước, bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ và huy hoàng nhất trong lịch sử Việt Nam.

TS. Đoàn Duy Khương

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/quan-tri-nguon-luc-quoc-gia-kien-tao-ky-nguyen-phat-trien-moi-10385144.html