QUẢN TRỊ QUỐC GIA VÀ NĂNG LỰC THỰC THI: BIẾN QUYẾT SÁCH THÀNH NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN
Trong giai đoạn phát triển mới, nâng cao năng lực quản trị và thực thi không chỉ là yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước, mà phải nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của năng lực phát triển. Quản trị quốc gia phải chuyển từ tư duy quản lý những gì đang có sang chủ động kiến tạo năng lực mới; từ giải quyết công việc sang tạo ra kết quả; từ phản ứng trước các vấn đề sang chuẩn bị năng lực thích ứng với những thay đổi chưa thể dự báo đầy đủ.

Nếu năng lực nội sinh là nền tảng của sức mạnh quốc gia; mô hình tăng trưởng mới là phương thức kiến tạo và phát huy năng lực nội sinh; nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực là cơ sở để mô hình tăng trưởng vận hành hiệu quả, thì điều gì quyết định những chủ trương, chính sách và thể chế thực sự đi vào cuộc sống? Câu trả lời nằm ở năng lực quản trị và thực thi của quốc gia.
Chính sách đúng, kịp thời nhưng thực thi chậm, không hiệu quả thì chính sách vẫn chỉ là chính sách. Vì vậy, trong giai đoạn phát triển mới, nâng cao năng lực quản trị và thực thi không chỉ là yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước, mà phải nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của năng lực phát triển.
Quản trị quốc gia phải chuyển từ tư duy quản lý những gì đang có sang chủ động kiến tạo năng lực mới; từ giải quyết công việc sang tạo ra kết quả; từ phản ứng trước các vấn đề sang chuẩn bị năng lực thích ứng với những thay đổi chưa thể dự báo đầy đủ.
Đây là tư duy cần được quán triệt trong tổ chức và thực hiện quá trình phát triển kiến tạo năng lực của con người, doanh nghiệp và quốc gia để tạo ra tăng trưởng nhanh, bền vững, thực hiện mục tiêu cao cả là nâng cao chất lượng cuộc sống thực của Nhân dân.
Đổi mới kỹ năng quản trị, chuyển từ quản lý sang kiến tạo năng lực
Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đối với Nhà nước không chỉ quản lý tốt những gì đang hiện hữu, mà phải kiến tạo các điều kiện để hình thành và phát huy những năng lực mới của đất nước. Đây là thay đổi quan trọng trong tư duy quản trị.
Quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ luật và sự vận hành ổn định của xã hội. Nhưng để phát triển nhanh đòi hỏi nhiều hơn, bởi vì phát triển cần môi trường ở đó con người có cơ hội nâng cao năng lực, doanh nghiệp có điều kiện đổi mới và lớn mạnh, nguồn lực được phân bổ hiệu quả, các sáng kiến được thử nghiệm và nhân rộng. Nhà nước kiến tạo không làm thay thị trường và xã hội, mà cần tạo lập thể chế, môi trường và năng lực để xã hội phát triển.
Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng cấp thiết khi đất nước bước sang giai đoạn phát triển có quy mô và mức độ phức tạp cao hơn. Các động lực tăng trưởng dựa vào mở rộng nguồn lực và lợi thế chi phí ngày càng bộc lộ giới hạn.
Tăng trưởng trong những thập niên tới phải dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực doanh nghiệp và khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động từ bên ngoài. Điều đó đòi hỏi phương thức quản trị phải thay đổi, từ chỗ chủ yếu tập trung vào quản lý thế nào, với quản trị phát triển cần thực thi các giải pháp để tạo ra năng lực mới.
Trong quản trị phát triển, chính sách giáo dục không chỉ nhằm quản lý hệ thống giáo dục và đào tạo, mà phải tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao hơn; chính sách doanh nghiệp không chỉ quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, mà phải tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ và lớn mạnh; chính sách đầu tư không chỉ đưa vốn vào nền kinh tế, mà phải hướng tới tạo ra năng lực sản xuất, hạ tầng và công nghệ mới. Khi mục tiêu quản trị thay đổi, cách thiết kế chính sách, tổ chức bộ máy và đánh giá kết quả cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Quản trị quốc gia phải tạo ra khả năng để đất nước xử lý thành công những điều trước đó chưa làm được. Đó chính là quản trị theo hướng kiến tạo năng lực.
Thực thi phải được thiết kế ngay từ khi ban hành chính sách
Một trong những khoảng cách lớn nhất giữa quyết sách và kết quả phát triển nằm ở thực thi. Chính sách có thể đúng về mục tiêu, phù hợp về định hướng và kịp thời điểm, nhưng nếu tổ chức thực hiện chậm, thiếu phối hợp, không đủ nguồn lực, hiệu quả cuối cùng vẫn bị hạn chế. Bởi vậy, thực thi không phải là khâu cuối cùng của chính sách mà phải được thiết kế ngay từ khi xây dựng chính sách.
Chính sách tốt ngay từ đầu phải trả lời được các câu hỏi "cần làm gì, ai làm, làm bằng nguồn lực nào, trong thời gian bao lâu, phối hợp ra sao, đo lường kết quả thế nào?" Đây là sự chuyển đổi từ tư duy ban hành chính sách sang tư duy thiết kế chính sách đảm bảo tính khả thi, có khả năng thực hiện hiệu quả.
Thực tiễn quản lý trong thời gian qua cho thấy nhiều chính sách sau khi ban hành mới phát hiện chồng chéo về thẩm quyền, thiếu nguồn lực, quy trình chưa phù hợp, chưa dự liệu đầy đủ điều kiện thực hiện ở cơ sở. Khi đó, cấp thực thi phải vừa làm vừa tháo gỡ những bất cập hoàn toàn có thể nhận diện sớm hơn ngay từ khâu thiết kế.
Muốn khắc phục tình trạng này, quá trình xây dựng chính sách cần gắn chặt hơn với thực tiễn thực thi. Ý kiến của địa phương, người dân, doanh nghiệp và những chủ thể trực tiếp thực hiện chính sách phải được coi là một phần quan trọng của quá trình hoạch định, chứ không chỉ tham vấn mang tính thủ tục.
Cùng với đó, mỗi quyết định phát triển cần được thiết kế như một chuỗi chuyển hóa từ mục tiêu đến kết quả, với phân công rõ ràng, trách nhiệm cụ thể, thẩm quyền tương xứng, nguồn lực phù hợp, cơ chế phối hợp thông suốt và hệ thống đo lường kết quả.
Đặc biệt, cần thay đổi cách đánh giá chính sách. Không nên chỉ dừng ở việc văn bản đã được ban hành, nhiệm vụ đã được giao, nguồn lực đã được bố trí, mà phải quan tâm đến việc chính sách đã tạo ra thay đổi gì trong thực tế.
Chẳng hạn, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần được đánh giá bằng năng lực mới doanh nghiệp có được; dự án đầu tư cần được nhìn từ năng lực sản xuất mới và năng suất dự án tạo ra; cải cách thủ tục cần được đánh giá bằng thời gian, chi phí và cơ hội mà người dân, doanh nghiệp thực sự tiết kiệm được.
Khi nhiệm vụ thực thi được thiết kế ngay từ đầu, khoảng cách giữa chính sách và cuộc sống sẽ được thu hẹp. Chính sách chỉ thực sự có tác dụng khi mục tiêu của chính sách được chuyển hóa thành kết quả trong thực tế.
Xây dựng hệ sinh thái thực thi, biến quyết sách thành kết quả
Thực thi là quá trình chuyển hóa chính sách thành kết quả trong thực tế. Để chính sách đi vào cuộc sống cần có sự vận hành đồng bộ của nhiều yếu tố, bao gồm thẩm quyền rõ ràng, phân định trách nhiệm, nguồn lực phù hợp, cơ chế phối hợp thông suốt, dữ liệu đầy đủ và sự tham gia của những chủ thể chịu tác động của chính sách.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ nâng cao năng lực của từng cơ quan, mà phải xây dựng một hệ sinh thái thực thi chính sách, trong đó mỗi chủ thể thực hiện đúng vai trò, các nguồn lực được kết nối và xác định rõ trách nhiệm để cùng hướng tới kết quả cuối cùng.
Trong thực tiễn, mỗi chính sách khi đi vào cuộc sống thường liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều cấp chính quyền, nhiều chủ thể khác nhau. Một quyết định ở Trung ương có thể cần được cụ thể hóa, bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện ở nhiều bộ, ngành, địa phương và chịu tác động trực tiếp của người dân, doanh nghiệp.
Chỉ một mắt xích không vận hành thông suốt, hiệu quả của chính sách có thể suy giảm. Vì vậy, điểm nghẽn của thực thi không phải lúc nào cũng nằm ở người thực hiện, nhiều khi nằm trong cách thức hệ thống được thiết kế và vận hành.
Trước hết, cần tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành và giữa các cấp chính quyền, nhất là trong quá trình đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hiện nay.
Phân cấp, phân quyền không chỉ là chuyển giao thẩm quyền, đó phải là sự chuyển giao đồng bộ quyền hạn, trách nhiệm, nguồn lực và năng lực thực hiện. Cấp nào có đủ thông tin, thẩm quyền và năng lực thực hiện thì cấp đó cần được trao quyền và chịu trách nhiệm về kết quả.
Hiện nay, nhiều lĩnh vực phát triển có tính liên ngành, liên vùng. Nâng cao năng suất, phát triển doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng đều không thể giải quyết bằng hoạt động riêng lẻ của một tổ chức, một địa phương.
Vì vậy, phối hợp chính sách phải trở thành năng lực của hệ thống. Đối với những nhiệm vụ liên ngành, cần xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng, đồng thời quy định rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tham gia.
Đặc biệt, nền quản trị hướng tới kết quả phải dựa trên dữ liệu đáng tin cậy. Không thể biết chính sách có tạo ra thay đổi hay không nếu thiếu hệ thống đánh giá phù hợp.
Cần chuyển mạnh từ báo cáo đã làm được bao nhiêu việc sang đánh giá đã tạo ra thay đổi gì; chuyển từ mức độ giải ngân sang năng lực và năng suất được tạo ra từ nguồn vốn; từ số lượng thủ tục được xử lý sang chi phí và thời gian người dân, doanh nghiệp thực sự được tiết giảm.
Cùng với đó, hệ thống thực thi phải tạo điều kiện cho người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới trong khuôn khổ pháp luật được thoả sức cống hiến; kỷ luật, kỷ cương vẫn phải thực hiện, nhưng không nên để tâm lý phòng ngừa rủi ro cá nhân trở thành lực cản của hành động.
Trao quyền phải đi cùng trách nhiệm; khuyến khích đổi mới phải đi cùng với chấp nhận và kiểm soát rủi ro; đánh giá kết quả phải đi cùng minh bạch và giải trình. Đặc biệt, phải coi người dân và doanh nghiệp là một bộ phận của hệ sinh thái thực thi.
Một chính sách cuối cùng phải được cảm nhận ở nơi nó tác động đến đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, phản hồi từ người dân, doanh nghiệp, xã hội phải trở thành nguồn thông tin để hoàn thiện chính sách.
Khi đó, Nhà nước không chỉ ban hành chính sách cho xã hội, mà cùng xã hội hoàn thiện chính sách thông qua thực tiễn. Từ đây, năng lực thực thi không chỉ là năng lực của một cơ quan, mà trở thành năng lực của quốc gia.
Tôn trọng sự thật để quản trị đúng, hành động hiệu quả
Quản trị muốn tạo ra kết quả phát triển trước hết phải nhìn đúng thực tế. Không thể có quyết sách tốt nếu vấn đề được nhận diện không trúng, không đúng; chính sách không khả thi nếu thông tin đầu vào thiếu chính xác; không thể điều chỉnh chính sách kịp thời nếu những hạn chế trong quá trình thực hiện không được phản ánh đầy đủ. Vì vậy, tôn trọng sự thật phải trở thành giá trị nền tảng của quản trị quốc gia.
Tôn trọng sự thật không chỉ là yêu cầu về tính trung thực trong báo cáo. Đó là năng lực nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện đúng vấn đề, đánh giá đúng kết quả và dũng cảm điều chỉnh những gì chưa phù hợp.
Sau bốn thập kỷ đổi mới, đất nước ta đã tạo nên nhiều thành tựu đáng trân trọng, đồng thời cũng đứng trước những yêu cầu phát triển mới. Năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực doanh nghiệp trong nước, hiệu quả phân bổ nguồn lực, chất lượng thể chế và năng lực thực thi cần tiếp tục được nhìn nhận một cách thực chất.
Nhìn thẳng vào những hạn chế không làm giảm niềm tin vào triển vọng phát triển của đất nước. Ngược lại, chính khả năng nhận diện đúng điểm yếu mới tạo cơ sở để tìm ra giải pháp đúng, củng cố niềm tin vào con đường phát triển.
Nền quản trị trưởng thành không né tránh vấn đề, mà biến việc nhận diện vấn đề thành điểm khởi đầu của cải cách. Điều đó đòi hỏi thay đổi cách đánh giá kết quả. Một nhiệm vụ có thể được hoàn thành về thủ tục nhưng chưa chắc đã tạo ra kết quả phát triển. Một chương trình có thể triển khai đúng tiến độ nhưng chưa chắc đã tạo ra năng lực mới. Vì vậy, cần chuyển từ đánh giá hoạt động sang đánh giá kết quả thực chất.
Nền quản trị hiệu quả không chỉ đặt vấn đề đã làm được bao nhiêu việc, mà phải hướng tới đã tạo ra kết quả gì; không chỉ quan tâm nguồn lực được sử dụng thế nào, mà phải đánh giá nguồn lực đó đã tạo ra năng suất và năng lực mới ra sao.
Muốn làm được điều đó, thông tin thống kê phải phản ánh đúng thực tế. Chất lượng thông tin thống kê là yếu tố quan trọng của năng lực quản trị quốc gia. Nếu thông tin không chính xác, nhận định có thể sai, dẫn đến hoạch định chính sách viển vông. Nếu chính sách được thực thi trên nền thông tin không chính xác và đầy đủ, nguồn lực xã hội bị phân bổ sai, sử dụng kém hiệu quả. Bởi vậy, cần xây dựng văn hóa khuyến khích nói đúng sự thật và được sử dụng để cải thiện chính sách.
Cùng với đó, khi khó khăn được phản ánh đúng thời điểm không nên nhìn nhận đó là biểu hiện của yếu kém và sai lầm. Cần coi đó là thông tin quý báu giúp cấp có thẩm quyền điều chỉnh chính sách, bổ sung nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn. Điều quan trọng là phân biệt rõ giữa phạm vi do thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ với những hạn chế, sai lệch có thể phát sinh trong quá trình thực hiện và cần được nhận diện để điều chỉnh.
Nền quản trị trưởng thành được nhìn nhận ở khả năng nhận biết vấn đề, dám đối diện và đủ năng lực để kịp thời điều chỉnh. Vì vậy, tôn trọng sự thật không phải để quy trách nhiệm cho một kết quả chưa đạt, mà để hệ thống có khả năng học hỏi, điều chỉnh và tiến bộ.
Thực tiễn phải là nơi kiểm chứng chính sách; dữ liệu phải là cơ sở để đánh giá; phản hồi phải là nguồn lực để điều chỉnh; sự thật phải là điểm xuất phát của quyết định. Khi đó, năng lực tự điều chỉnh trở thành một bộ phận của năng lực quản trị quốc gia.
Kiến tạo năng lực thích ứng để quốc gia chủ động trước tương lai
Nếu quản trị quốc gia chỉ tập trung giải quyết những vấn đề đang hiện hữu, bộ máy có thể vận hành tốt trong điều kiện hiện tại nhưng chưa chắc đủ năng lực để ứng phó với những thay đổi của tương lai.
Trong thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường, ngày càng nhiều yếu tố có thể làm thay đổi môi trường phát triển, khả năng thích ứng và chống chịu phải trở thành năng lực chiến lược của quốc gia.
Trong những thập niên tới, kinh tế Việt Nam sẽ đứng trước nhiều chuyển động lớn, đối mặt với cạnh tranh kinh tế và công nghệ giữa các quốc gia ngày càng khốc liệt; cấu trúc thương mại và chuỗi cung ứng tiếp tục thay đổi; chuyển dịch năng lượng diễn ra nhanh hơn; thị trường lao động biến đổi; công nghệ mới làm thay đổi phương thức sản xuất; cùng với đó là những rủi ro mà không phải lúc nào cũng có thể dự báo chính xác.
Trong điều kiện đó, không thể xây dựng năng lực phát triển chỉ bằng cách chuẩn bị cho những gì đã biết. Nền kinh tế phải có khả năng chuẩn bị năng lực để ứng phó với cả những thay đổi chưa thể biết trước.
Đây là sự chuyển đổi từ tư duy ứng phó sang chủ động chuẩn bị, từ xử lý rủi ro khi đã xảy ra sang xây dựng năng lực chống chịu từ trước; từ thích nghi bị động sang chủ động tạo ra khả năng thích ứng.
Không một quốc gia nào có thể dự báo chính xác tất cả những gì sẽ xảy ra trong những thập niên tới. Vì vậy, quản trị quốc gia không nên chỉ xây dựng một kế hoạch cứng nhắc cho tương lai, mà cần tạo ra năng lực để đất nước có thể vận hành tốt trong nhiều kịch bản khác nhau.
Nền kinh tế có nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ thích ứng nhanh hơn khi công nghệ thay đổi; khu vực doanh nghiệp có năng lực đổi mới sẽ phản ứng tốt hơn khi thị trường biến động; hệ thống hạ tầng đồng bộ sẽ giúp giảm chi phí điều chỉnh khi các dòng thương mại và sản xuất dịch chuyển; nền tài chính công lành mạnh sẽ tạo thêm dư địa để ứng phó với những cú sốc lớn; nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực sẽ cho phép xã hội huy động nhanh hơn các nguồn lực để giải quyết những vấn đề mới.
Như vậy, khả năng chống chịu của quốc gia không được tạo ra vào thời điểm khủng hoảng; nó được tạo dựng từ những năng lực được kiến tạo trong thời kỳ ổn định. Điều đó đòi hỏi quản trị quốc gia không chỉ có năng lực xử lý tốt một vấn đề khi nó xuất hiện, mà phải có khả năng nhận diện sớm những thay đổi có tính bước ngoặt và chuẩn bị trước năng lực cần thiết. Mỗi chính sách, chiến lược cần được nhìn với phạm vi rộng hơn, nghĩa là chính sách, chiến lược tạo ra năng lực gì để đất nước có thể đứng vững và phát triển trong bối cảnh biến động với nhiều thay đổi của ngày mai.
Tạo dựng năng lực thích ứng không chỉ là nhiệm vụ của Chính phủ, năng lực này phải được hình thành từ khả năng thích ứng của toàn xã hội. Người dân cần có năng lực học tập suốt đời và thích ứng với thay đổi của thị trường lao động. Doanh nghiệp cần có khả năng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và đa dạng hóa thị trường.
Nhà nước cần có khả năng học hỏi, điều chỉnh chính sách và phản ứng nhanh trước những thay đổi của môi trường phát triển. Khi mỗi chủ thể có năng lực thích ứng tốt hơn, năng lực chống chịu của quốc gia cũng được nâng lên. Đó là lý do tư tưởng kiến tạo năng lực phải trở thành phương thức tổ chức phát triển.
Quyết định đầu tư hiệu quả không chỉ tạo ra công trình, mở rộng quy mô GDP trong năm mà phải tạo thêm năng lực sản xuất trong giai đoạn tới. Chính sách giáo dục tốt không chỉ tạo ra kết quả của một khóa học mà phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nhiều thập niên. Cải cách thể chế trúng và đúng không chỉ giải quyết một thủ tục hiện tại mà phải tạo cho nền kinh tế có khả năng vận hành hiệu quả hơn trong tương lai.
Mỗi quyết sách đúng hôm nay, cùng với nền quản trị và thực thi hiệu quả sẽ tạo ra những thành quả phát triển trong nhiều thập niên tới, đồng thời tạo ra năng lực mới để đất nước tiếp tục phát triển. Đây chính là logic tạo dựng cho phát triển.
Tăng trưởng tạo nguồn lực. Nguồn lực được sử dụng đúng sẽ tạo ra năng lực mới. Năng lực mới nâng cao năng suất. Năng suất cao hơn tạo ra tăng trưởng chất lượng hơn. Tăng trưởng chất lượng hơn lại tạo thêm nguồn lực để tiếp tục kiến tạo năng lực. Khi quá trình này được duy trì trong thời gian dài, năng lực nội sinh của nền kinh tế sẽ không ngừng được nâng lên. Đó mới là nền tảng của tăng trưởng nhanh, bền vững.
Kiến tạo năng lực biến khát vọng phát triển thành hiện thực
Một quốc gia muốn đi xa không thể chỉ dựa vào những nguồn lực hiện có. Điều quyết định tương lai của quốc gia là khả năng không ngừng tạo ra những năng lực mới. Đó là năng lực của mỗi con người để học hỏi, sáng tạo và thích ứng; năng lực của mỗi doanh nghiệp để đổi mới, nâng cao năng suất và cạnh tranh; năng lực của Nhà nước để kiến tạo thể chế, tổ chức nguồn lực, quản trị hiệu quả và thực thi đến cùng những quyết định vì phát triển. Khi những năng lực ấy được cộng hưởng, chúng tạo nên năng lực nội sinh và trở thành nền tảng của sức mạnh quốc gia.
Bởi vậy, phát triển không nên chỉ nhìn nhận bằng tốc độ tăng trưởng của một năm hay quy mô của nền kinh tế tại một thời điểm. Câu hỏi sâu hơn cần đặt ra là quá trình tăng trưởng hôm nay đang tạo ra năng lực gì cho đất nước của ngày mai?
Lượng vốn được đầu tư có thể tạo ra một công trình, nhưng giá trị lớn hơn là công trình đó tạo ra năng lực sản xuất mới. Cải cách thể chế có thể tháo gỡ điểm nghẽn, nhưng giá trị lớn hơn là kết quả của cải cách làm cho người dân và doanh nghiệp có thêm không gian để phát triển. Quyết sách đúng, cùng với quản trị và thực thi hiệu quả, không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt mà còn có thể tạo ra những năng lực mới cho nhiều năm sau.
Khi nhìn phát triển theo cách đó, tăng trưởng không còn là đích đến tự thân, mà trở thành một quá trình tích lũy năng lực. Từ năng lực của con người đến năng lực của doanh nghiệp; từ năng lực của từng chủ thể đến năng lực của cả hệ thống; từ năng lực của nền kinh tế đến năng lực quản trị và thích ứng của quốc gia, đó là một quá trình liên tục, trong đó mỗi thành quả hôm nay phải trở thành nền tảng cho bước phát triển cao hơn ngày mai.
Để quá trình đó diễn ra bền vững, Việt Nam cần sự chuyển đổi đồng bộ trong tư duy phát triển. Cần mô hình tăng trưởng không chỉ dựa vào huy động nguồn lực, mà chủ động kiến tạo năng lực. Cần nền thể chế không chỉ để quản lý, mà để mở rộng cơ hội phát triển cho người dân và doanh nghiệp. Cần nền quản trị không chỉ giải quyết công việc, mà tạo ra kết quả. Cần năng lực thực thi đủ mạnh để biến những quyết sách đúng thành những thay đổi có thật trong cuộc sống.
Trong một thế giới thay đổi nhanh, lợi thế của quốc gia không chỉ nằm ở những gì quốc gia đó đang sở hữu. Lợi thế ngày càng nằm ở khả năng học hỏi nhanh hơn, đổi mới kịp thời hơn, thích ứng tốt hơn và tạo ra năng lực mới nhanh hơn. Đó là lý do năng lực thích ứng và chống chịu phải trở thành một phần của năng lực phát triển.
Chúng ta không thể biết chính xác thế giới của những thập niên tới sẽ thay đổi như thế nào, nhưng chúng ta có thể chủ động xây dựng một đất nước đủ năng lực để thích ứng với những thay đổi đó. Đây chính là yêu cầu sâu xa nhất đối với quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Quản trị quốc gia không chỉ giải quyết tốt những vấn đề của hiện tại, mà phải tạo dựng năng lực để đất nước làm chủ tốt hơn tương lai của mình.
Vì thế, khát vọng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 không chỉ là một mục tiêu về quy mô hay thu nhập, mà còn là quá trình nâng cao chất lượng quốc gia với con người có năng lực hơn, doanh nghiệp có sức cạnh tranh hơn, thể chế tiến bộ hơn, quản trị hiệu quả hơn và nền kinh tế có năng suất cao hơn.
Khi những năng lực ấy được tạo dựng đủ lớn và liên tục được phát huy, tăng trưởng sẽ nhanh hơn, bền vững hơn; sức mạnh quốc gia sẽ lớn hơn, vững chắc hơn; thành quả phát triển cuối cùng sẽ được chuyển hóa thành chất lượng cuộc sống tốt hơn cho Nhân dân.
Thiết nghĩ, phát triển không phải là làm cho đất nước lớn lên bằng mọi giá, mà phải kiến tạo đất nước có thêm năng lực nâng cao tính độc lập, tự chủ, tự cường để phát triển ngày càng tốt hơn.
Phải chăng chúng ta cần một cách nhìn khác về con đường phát triển của Đất nước trong những thập niên tới, với lấy con người làm trung tâm, năng lực nội sinh làm nền tảng, thể chế và quản trị làm phương thức kiến tạo, năng suất và đổi mới làm động lực, năng lực thích ứng làm sức mạnh để đi tới tương lai.
Nếu mỗi quyết sách hôm nay đều hướng tới tạo ra năng lực cho ngày mai; mỗi cải cách đều làm cho hệ thống vận hành tốt hơn; mỗi nguồn lực được chuyển hóa thành năng suất và năng lực phát triển; mỗi thành quả hôm nay trở thành nền tảng cho một bước tiến mới, thì quá trình phát triển sẽ không ngừng tự củng cố.
Năng lực tạo ra tăng trưởng. Tăng trưởng tạo thêm nguồn lực. Sử dụng nguồn lực hiệu quả lại tạo ra năng lực mới. Năng lực mới tiếp tục mở rộng giới hạn phát triển của nền kinh tế. Đây là con đường để Việt Nam kiến tạo sức mạnh nội sinh, biến khát vọng phát triển thành năng lực phát triển và biến năng lực phát triển thành sức mạnh quốc gia.
Mục tiêu cao nhất của Đảng và Nhà nước là đem lại cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho mỗi người dân. Phát triển vì Nhân dân, bằng cách không ngừng kiến tạo và phát huy năng lực của con người, doanh nghiệp và quốc gia không chỉ là mục tiêu, mà cần trở thành tư tưởng xuyên suốt trong phương thức tổ chức và thực hiện con đường phát triển đất nước trong những thập niên tới./.
Nguyễn Bích Lâm
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê
