Quản trị rủi ro chủ động: Phòng ngừa phải đi trước một bước
Biến đổi khí hậu đang khiến thiên tai ngày càng cực đoan, bất thường, trong khi mức độ ảnh hưởng và thiệt hại tiếp tục gia tăng cùng quá trình đô thị hóa, phát triển hạ tầng và mật độ tập trung dân cư. Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là ứng phó tốt khi thiên tai xảy ra, mà phải nhận diện rủi ro từ sớm, xác định đối tượng có nguy cơ chịu tác động và chủ động hành động trước khi thiên tai phát triển thành thảm họa. Liên quan đến vấn đề này, phóng viên Báo Công an nhân dân đã có cuộc trao đổi với GS. Trần Thục, Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn (KTTV) Việt Nam.
Phóng viên:Việt Nam vốn là quốc gia thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, theo ông những thách thức đối với công tác phòng, chống thiên tai đang thay đổi như thế nào?
GS. Trần Thục: Việt Nam chịu tác động của nhiều loại hình thiên tai, phần lớn có nguồn gốc khí tượng thủy văn như bão, mưa lớn, lũ, hạn hán, nắng nóng, xâm nhập mặn. Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng nguy cơ và mức độ cực đoan của nhiều hiện tượng, đồng thời làm tăng tính bất thường về thời gian, không gian và khả năng xuất hiện đồng thời hoặc nối tiếp của nhiều loại hình thiên tai.

GS Trần Thục, Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn (khí tượng, thuỷ văn) Việt Nam.
Rủi ro thiên tai cũng gắn chặt với quá trình phát triển. Đô thị hóa và tập trung dân cư, tài sản tại vùng nguy cơ cao làm tăng mức độ phơi bày. Vì vậy, rủi ro không chỉ phụ thuộc vào hiểm họa mà còn vào con người, tài sản, cơ sở hạ tầng nằm ở đâu, dễ bị tổn thương thế nào và có đủ năng lực chuẩn bị, ứng phó hay không.
Vì vậy, nếu chỉ tập trung vào xử lý khi thiên tai đã xảy ra thì chưa đủ. Chỉ đạo gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động; từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; từ chỉ đạo theo mùa vụ sang chuẩn bị thường xuyên; từ cách làm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu, khoa học, công nghệ, pháp luật, quy hoạch và trách nhiệm.
Theo tôi, câu hỏi không chỉ là “khi thiên tai xảy ra, chúng ta ứng phó thế nào?”, mà phải đặt sớm hơn: Rủi ro đang hình thành ở đâu, ai có thể chịu tác động và có thể can thiệp vào đâu trước khi thiên tai xảy ra? Nói ngắn gọn, phòng ngừa phải đi trước một bước, để giảm khả năng thiên tai phát triển thành thảm họa.

Phóng viên: Gần đây chúng ta nói nhiều đến chuyển đổi tư duy từ phòng, chống thiên tai sang quản trị rủi ro thiên tai. Vậy phòng, chống thiên tai, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và quản trị rủi ro thiên tai khác nhau như thế nào, thưa ông?
GS. Trần Thục: Không nên hiểu phòng, chống thiên tai chỉ là cứu hộ, cứu nạn hoặc ứng phó khi thiên tai đã xảy ra. Đây là phạm vi hoạt động rộng, bao gồm phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó, khắc phục hậu quả và phục hồi.
Giảm nhẹ rủi ro thiên tai nhấn mạnh đến việc tác động vào các yếu tố hình thành rủi ro. Có thể hình dung đơn giản rằng rủi ro phụ thuộc vào ba thành phần: hiểm họa, tức hiện tượng nguy hiểm có thể xảy ra; phơi bày, tức con người, tài sản hay hoạt động nằm trong vùng có hiểm họa; và mức độ dễ bị tổn thương, tức khả năng chịu đựng và ứng phó của các đối tượng đó.
Chúng ta không thể ngăn một trận mưa rất lớn xảy ra, nhưng có thể hạn chế phát triển dân cư tại nơi có nguy cơ lũ quét, sạt lở; nâng năng lực tiêu thoát nước; xây dựng công trình có sức chống chịu cao hơn; giảm mức độ dễ bị tổn thương; đồng thời cảnh báo đủ sớm để người dân tránh khỏi khu vực nguy hiểm. Không loại bỏ được hiểm họa nhưng vẫn có thể làm giảm rủi ro.
Quản trị rủi ro thiên tai nói đến cách Nhà nước và xã hội tổ chức việc ra quyết định đối với rủi ro: thể chế, chính sách, dữ liệu, trách nhiệm, cơ chế phối hợp, nguồn lực và sự tham gia của cộng đồng. Nó không thay thế phòng, chống thiên tai hay giảm nhẹ rủi ro, mà tạo khuôn khổ để các hoạt động phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó và phục hồi được tổ chức nhất quán, dựa trên thông tin rủi ro và có sự tham gia của nhiều chủ thể.
Quản trị rủi ro phải được thực hiện liên tục, không chỉ trong mùa thiên tai. Quy hoạch, tiêu chuẩn xây dựng, bố trí dân cư, vận hành hạ tầng và cảnh báo sớm đều phải tính đến rủi ro. Mục tiêu là ngăn ngừa rủi ro mới, giảm rủi ro hiện hữu, quản lý phần rủi ro còn lại và tăng khả năng chống chịu. Bên cạnh câu hỏi “thiên tai sẽ xảy ra thế nào?”, phải hỏi thêm “ai sẽ bị ảnh hưởng và cần làm gì từ trước?”.
Phóng viên: Như vậy, để hiện thực hóa tư duy quản trị rủi ro, cách tổ chức phòng, chống thiên tai hiện nay cần thay đổi những gì, đặc biệt ở cấp địa phương?
GS. Trần Thục: Theo tôi, điều đầu tiên là phải chuyển từ những phương án khá chung sang quản trị rủi ro theo địa bàn, theo đối tượng và theo tình huống cụ thể.
Rủi ro không tồn tại chung chung ở cấp quốc gia hay cấp tỉnh, mà hiện hữu ở từng lưu vực, khu dân cư, tuyến đường, hồ chứa, vùng sản xuất hay nhóm dân cư cụ thể. Chính địa phương biết rõ nhất nơi nào xung yếu, ai cần sơ tán trước và nguồn lực tại chỗ thực sự có gì.
Có ba việc quan trọng. Thứ nhất, phải biết rủi ro nằm ở đâu. Bản đồ mưa lớn hay hạn hán mới chỉ cho biết hiểm họa. Cần kết hợp với dữ liệu về dân cư, hạ tầng, vùng sản xuất và đối tượng dễ bị tổn thương để xây dựng bản đồ rủi ro; dữ liệu phải được cập nhật thường xuyên.
Thứ hai, gắn cảnh báo với hành động chuẩn bị trước. Nếu chỉ cảnh báo “mưa rất lớn” thì người sử dụng vẫn phải tự quyết định phải làm gì. Cần xác định trước khi nào hạn chế giao thông, khi nào sơ tán, lúc nào bảo vệ công trình, tích nước hoặc điều chỉnh sản xuất. Những ngưỡng và hành động này phải được cơ quan chuyên môn và địa phương chuẩn bị trước.
Thứ ba, chia sẻ dữ liệu và phối hợp liên ngành. Ngành KTTV có dữ liệu và dự báo về hiểm họa, nhưng dữ liệu về dân cư, cây trồng, giao thông, điện, y tế, hồ chứa hay khả năng chịu đựng của từng hệ thống nằm ở các ngành khác và địa phương. Nếu dữ liệu không kết nối thì cảnh báo khó đủ cụ thể để hỗ trợ quyết định.
Không nên hiểu “bốn tại chỗ” là giao toàn bộ trách nhiệm cho cơ sở. Cơ sở phải nắm chắc địa bàn, tổ chức lực lượng ban đầu và có phương án chi viện khi tình huống vượt quá năng lực. Một địa phương có năng lực quản trị rủi ro tốt phải biết rủi ro ở đâu, ai có nguy cơ cao nhất và phải hành động từ thời điểm nào.

Công an xã Na Sầm (Lạng Sơn) đưa người già thoát khỏi khu dân cư bị cô lập nặng do mưa lũ.
Phóng viên: Trong hệ thống quản trị rủi ro đó, ngành KTTV có vai trò như thế nào? Đặc biệt, trước nguy cơ El Nino 2026–2027, dự báo và cảnh báo cần thay đổi ra sao để hỗ trợ hành động sớm?
GS. Trần Thục: Trước hết cần xác định rõ, ngành KTTV không quản trị rủi ro thay cho chính quyền, các ngành và cộng đồng. Nhưng thông tin KTTV là điểm khởi đầu rất quan trọng của chuỗi thông tin rủi ro.
Ngành KTTV có trách nhiệm quan trắc, giám sát và dự báo hiểm họa: bão, mưa lớn, nhiệt độ, nắng nóng, dòng chảy, hạn hán, xâm nhập mặn và các hiện tượng KTTV nguy hiểm khác. Nhưng nếu bản tin chỉ dừng ở “mưa bao nhiêu milimét”, “gió cấp mấy”, “nhiệt độ bao nhiêu độ” thì người sử dụng vẫn phải tự trả lời: những con số đó có ý nghĩa gì đối với địa bàn và lĩnh vực của tôi?
Đó là lý do cần chuyển mạnh từ dự báo hiện tượng sang dự báo dựa trên tác động và cảnh báo tác động. Thông tin về hiểm họa phải được kết hợp với thông tin về phơi bày và mức độ dễ bị tổn thương để cho biết khu vực nào, đối tượng nào có thể bị ảnh hưởng, mức độ ra sao và cần chuẩn bị hành động gì.
Đây không thể là sản phẩm của riêng ngành KTTV. Ngành KTTV cung cấp thông tin về hiểm họa; các ngành và địa phương cung cấp dữ liệu về đối tượng phơi bày, ngưỡng chịu đựng và năng lực ứng phó. Các bên phải cùng xây dựng thông tin có thể sử dụng cho quyết định.
El Nino 2026–2027 cho thấy rõ yêu cầu này. Thực hiện kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thiện báo cáo dự báo El Nino 2026–2027, nhận định nguy cơ tác động và đề xuất khung kỹ thuật dự báo dựa trên tác động; đồng thời gửi tới các cơ quan Trung ương, bộ, ngành và địa phương để tham khảo phục vụ chỉ đạo, điều hành.
Điểm đáng chú ý không chỉ là dự báo El Nino mạnh hay yếu. Cách tiếp cận là coi El Nino như một tín hiệu khí hậu nền, sau đó xác định nó có thể làm gia tăng hiểm họa gì, ở đâu, vào thời gian nào và kéo dài bao lâu; từ đó xác định đối tượng phơi bày, mức độ dễ bị tổn thương, ngưỡng tác động và nhóm hành động phù hợp.
Các nguy cơ cần theo dõi gồm nền nhiệt cao, nắng nóng, thiếu hụt mưa, suy giảm dòng chảy, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và cháy rừng. Nhưng không được đồng nhất El Nino với hạn hán. Ngay trong giai đoạn El Nino, bão mạnh, mưa lớn cực đoan, lũ quét, sạt lở đất hay ngập úng vẫn có thể xảy ra. Vì vậy phải duy trì cách tiếp cận đa hiểm họa.
Dự báo El Nino và các kịch bản 2026–2027 vẫn có bất định. Tác động thực tế còn phụ thuộc vào phân bố mưa, nguồn nước, hồ chứa, đối tượng phơi bày, mức độ dễ bị tổn thương và năng lực ứng phó. Vì vậy, kịch bản phải cập nhật theo quan trắc và dự báo mới, không được hiểu như dự báo chắc chắn về thiệt hại.
Theo tôi, yêu cầu đối với KTTV không chỉ là dự báo chính xác hơn, mà còn phải tăng dự báo xác suất, nâng độ chi tiết, xây dựng dữ liệu tác động, xác định ngưỡng cảnh báo và truyền tin đến đúng người, đúng nơi, đúng thời điểm, đủ sớm để hành động.
Một dự báo khoa học tốt chưa phải là điểm kết thúc. Giá trị của dự báo được thể hiện khi thông tin giúp người sử dụng ra quyết định sớm hơn và giảm được rủi ro. Nếu dự báo hiện tượng chủ yếu trả lời “thiên nhiên có thể xảy ra điều gì?”, thì dự báo dựa trên tác động phải tiến thêm một bước: “điều đó có thể ảnh hưởng tới ai, ở đâu, ở mức nào và cần chuẩn bị hành động gì?”. Đó là đóng góp quan trọng của ngành KTTV đối với quá trình chuyển từ ứng phó thiên tai sang quản trị rủi ro chủ động.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!
