Quản trị rủi ro để bảo toàn hiệu quả đầu tư hạ tầng
Sáng 16-9, tại tọa đàm “Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng trong kỷ nguyên đầu tư công” do Báo Xây dựng tổ chức, các chuyên gia, chủ đầu tư và doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng, khi hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn được triển khai, quản trị rủi ro cần được đặt ra ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư, thay vì chỉ xử lý khi sự cố xảy ra.

Quang cảnh buổi toạ đàm. Ảnh: PV.
Quy mô dự án càng lớn, rủi ro càng có tính dây chuyền
Theo ông Đàm Đức Biên, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), các dự án cao tốc, đường sắt tốc độ cao, sân bay, cảng biển, năng lượng... có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, nhiều gói thầu và nhiều nhà thầu, với sự liên kết chặt chẽ giữa các hạng mục. Vì vậy, quy mô dự án càng lớn, rủi ro không chỉ tăng về mức độ mà còn thay đổi về tính chất.
Đáng lưu ý, một sự cố ở một khâu có thể tạo hiệu ứng dây chuyền về chi phí, tiến độ, chất lượng, thậm chí ảnh hưởng khả năng khai thác của cả hệ thống và các gói thầu khác.
Ông Biên phân tích 5 nhóm rủi ro chính gồm: Rủi ro kỹ thuật do điều kiện địa chất, thủy văn, nền móng, cầu, hầm, kết cấu ngầm, thiết bị và sự giao thoa giữa các hạng mục; rủi ro tiến độ; rủi ro tại giao diện giữa các hợp đồng, nhà thầu; tác động lớn hơn tới xã hội và rủi ro về giá trị tổn thất tiềm tàng. Với công trình trị giá hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng, chỉ một tỷ lệ tổn thất tương đối nhỏ cũng có thể tạo ra thiệt hại rất lớn.
Từ thực tế quản lý dự án, ông Lê Văn Bình, Phòng Khoa học Công nghệ, Ban Quản lý dự án Thăng Long (Bộ Xây dựng) cho biết, rủi ro có thể xuất hiện từ tiến độ giải phóng mặt bằng, huy động nguồn lực, vật liệu, thủ tục đến khảo sát, thiết kế, địa chất, thủy văn; cùng với đó là thiên tai, thời tiết cực đoan, biến động chi phí, an toàn lao động và trách nhiệm với bên thứ ba.
Theo ông Bình, quản trị rủi ro phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, gắn với tiến độ, chất lượng, chi phí và an toàn. Trước hết phải nhận diện rủi ro từ sớm, đánh giá mức độ ảnh hưởng, xây dựng phương án ứng phó và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Công tác kiểm tra, giám sát tại hiện trường cũng cần được tăng cường, nhất là với các hạng mục phức tạp, khu vực có điều kiện địa chất, thủy văn bất lợi hoặc nguy cơ thiên tai.
Một vấn đề khác được các đại biểu lưu ý là sự phối hợp. Dự án lớn có sự tham gia của chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu, cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương; nếu thông tin không được trao đổi kịp thời, rủi ro tại “giao diện” giữa các bên có thể phát sinh và lan rộng.
Đối với các dự án đường sắt quy mô lớn, ông Nguyễn Văn Diệp, Trưởng phòng Thể chế hợp đồng, Ban Quản lý dự án đường sắt (Bộ Xây dựng) cho biết, mức độ quan tâm đến bảo hiểm phải bắt đầu từ khâu chuẩn bị đầu tư, thiết kế, thực hiện và cả giai đoạn sau này. Ban đang hướng tới thuê tư vấn bảo hiểm để nghiên cứu chương trình tổng thể cho toàn bộ dự án, qua đó lựa chọn các đơn vị có đủ năng lực và kinh nghiệm.

Theo các chuyên gia, quy mô dự án càng lớn, rủi ro càng có tính dây chuyền. Ảnh: Tạ Hải.
Không chờ sự cố mới tìm cách xử lý
Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Đàm Đức Biên cho rằng, chủ đầu tư trước hết phải có giải pháp phòng ngừa rủi ro, trong đó hợp đồng cần xác định rõ trách nhiệm của các bên. Tuy nhiên, có những rủi ro không thể tránh, không thể lường trước hoặc phát sinh từ yếu tố khách quan. Khi đó, bảo hiểm trở thành một công cụ chuyển giao rủi ro, giúp chủ đầu tư có nguồn lực để khắc phục hậu quả khi sự cố xảy ra.
Theo quy định được ông Biên dẫn chiếu tại tọa đàm, các công trình quy mô lớn, phức tạp; công trình có khả năng ảnh hưởng lớn đến an toàn cộng đồng, hạ tầng; hoặc có khả năng gây sự cố môi trường thuộc nhóm phải mua bảo hiểm. Chi phí bảo hiểm đã được tính trong tổng mức đầu tư dự án.
Đáng chú ý, bà Bùi Thị Thanh Xuân, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty CP Bảo hiểm Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VBI) cho biết, Nghị định 220/2026/NĐ-CP điều chỉnh, bổ sung một số điều liên quan đến bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng có những thay đổi về quy định tăng, giảm phí bảo hiểm bắt buộc, theo hướng việc định phí phải gắn với đánh giá rủi ro thực tế.
Tại VBI, việc tính phí được xem xét trên 4 nhóm tiêu chí: đặc điểm tự nhiên của vị trí xây dựng, trong đó có khả năng chống chịu thiên tai, ngập lụt, sạt lở; đặc điểm kỹ thuật của công trình; năng lực của nhà thầu và tư vấn giám sát, bao gồm cả lịch sử tổn thất thực tế; và các yếu tố xung quanh như mật độ dân cư, công trình lân cận, hạ tầng ngầm hiện hữu, đặc biệt với các dự án trong đô thị.
Theo bà Xuân, với cách tiếp cận này, doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ thực hiện việc bán bảo hiểm mà còn có thể huy động chuyên gia chuyên sâu, thậm chí chuyên gia quốc tế, để tư vấn cho chủ đầu tư cùng quản trị rủi ro và giảm thiểu tổn thất.

Trên địa bàn Hà Nội đang triển khai hàng loạt công trình ngầm. Ảnh: Tạ Hải.
Đây cũng là vấn đề đáng lưu ý khi Hà Nội và nhiều đô thị lớn chuẩn bị triển khai thêm các dự án công trình ngầm. Bà Xuân cho biết bảo hiểm công trình ngầm thường có mức phí cao hơn do tính bất định lớn, dù công tác khảo sát địa chất đã được thực hiện kỹ. Khi sự cố xảy ra, chi phí xử lý thường cao, giải pháp kỹ thuật phức tạp và tổn thất có thể dẫn đến sụt lún trên phạm vi rộng.
Cùng với đánh giá đúng rủi ro, việc minh bạch thông tin dự án cũng được xác định là yếu tố quan trọng. Theo ông Lê Văn Bình, việc xác định rõ phạm vi công việc, giá trị xây dựng, các hạng mục chính, điều kiện thi công và rủi ro đặc thù giúp doanh nghiệp bảo hiểm có cơ sở đánh giá, xây dựng phương án phù hợp; đồng thời hạn chế cách hiểu khác nhau về đối tượng, phạm vi và giá trị bảo hiểm, qua đó giảm tranh chấp khi xảy ra sự cố.
Với những dự án hạ tầng ngày càng lớn về quy mô và mức độ liên kết, quản trị rủi ro không còn là công việc xử lý hậu quả. Yêu cầu đặt ra là nhận diện, đánh giá, phòng ngừa và phân bổ rủi ro ngay từ đầu; trong đó bảo hiểm là một công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm quản lý của chủ đầu tư.
Với khối lượng đầu tư công lớn đang được triển khai và chuẩn bị triển khai, đây không chỉ là câu chuyện bảo vệ một công trình trước tổn thất, mà còn là yêu cầu bảo toàn tiến độ, chi phí và hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư của Nhà nước.

