Quản trị vùng đất bãi ven sông của Hà Nội: Lập lại kỷ cương để mở lối phát triển Bài 4: Cần hóa giải điểm nghẽn quy hoạch và thủ tục
Nhiều bến bãi ven sông đã dừng hoạt động sau khi không đáp ứng các yêu cầu về pháp lý, đất đai và an toàn. Tuy nhiên, trong số đó có những cơ sở đã hình thành, hoạt động hàng chục năm, tạo nhiều công ăn việc làm, vị trí phù hợp với quy hoạch và có mong muốn được hoàn thiện thủ tục để hoạt động hợp pháp, chính danh. Thực tế này đặt ra yêu cầu, các cấp, ngành cần phối hợp với chính quyền địa phương mở lối pháp lý cho những cơ sở đủ điều kiện tiếp tục hoạt động.

Một bến, bãi trung chuyển vật liệu xây dựng tại phường Sơn Tây đã dừng hoạt động. Ảnh: Đỗ Vân
Chờ được hoạt động chính danh
Dọc hơn 5km đê hữu Hồng thuộc địa bàn phường Sơn Tây, nhiều bến bãi đã dừng hoạt động. Không còn cảnh xe ben, máy xúc hoạt động tấp nập như trước, nhưng câu chuyện phía sau những bến bãi này vẫn chưa khép lại.
Theo Phó Trưởng phòng Kinh tế phường Sơn Tây Trần Đình Chiến, trên địa bàn có 13 cơ sở kinh doanh bến bãi, trong đó chỉ có Cảng Sơn Tây được cấp phép hoạt động; 12 hộ kinh doanh còn lại chưa đủ điều kiện và đều đã dừng hoạt động. “Các cơ sở này tha thiết được hướng dẫn hoàn thiện thủ tục để tiếp tục kinh doanh hợp pháp. Địa phương cũng mong muốn sớm tháo gỡ để doanh nghiệp có thể hoạt động đúng quy định. Khi các bến có hồ sơ, giấy phép cụ thể thì công tác quản lý của phường cũng thuận lợi, nền nếp”, ông Trần Đình Chiến cho biết.
Đáng chú ý, vị trí bến bãi của 12 hộ kinh doanh cơ bản phù hợp định hướng quy hoạch bến, bãi trung chuyển vật liệu xây dựng của thành phố. Quy hoạch dài hạn dự kiến hình thành một dải cảng trung chuyển ven sông Hồng tại đây với diện tích lên đến 50ha (diện tích bến bãi hiện có của 12 hộ kinh doanh chỉ khoảng 2ha). Tuy nhiên, từ việc phù hợp định hướng quy hoạch đến đủ điều kiện triển khai một dự án vẫn là một khoảng cách dài.
Phần lớn đất hiện trạng của các hộ có nguồn gốc là đất nông nghiệp, đất ở hoặc đất được mua gom qua nhiều thời kỳ. Muốn sử dụng vào hoạt động tập kết, trung chuyển vật liệu xây dựng, các chủ cơ sở phải thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, hoàn thiện điều kiện về bến thủy, đê điều, môi trường và các yêu cầu chuyên ngành khác.
Theo Phó Trưởng phòng Kinh tế phường Sơn Tây Trần Đình Chiến, thẩm quyền cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quyết định những vấn đề quan trọng của dự án thuộc thành phố. Phường có trách nhiệm rà soát, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ. Vì vậy, nhiều nội dung vẫn phải chờ hướng dẫn và quyết định của thành phố cùng các sở, ngành.
Được biết, các cơ sở bến bãi tại phường Sơn Tây đã hoạt động từ những năm 1980. Giấy phép hoạt động của nhiều bến đã hết hạn vào khoảng năm 2016 nhưng hiện vẫn chưa được gia hạn. Việc đồng loạt dừng hoạt động các bến bãi đã tác động đến đời sống của người lao động và nhu cầu mua vật liệu xây dựng trong khu vực. Theo đó, hàng chục lao động của 70 hộ dân trong vùng từng làm việc tại 12 cơ sở bến bãi đã phải tìm sinh kế khác. Người dân có nhu cầu xây dựng phải đi xa hơn mua vật liệu, làm tăng chi phí.
Câu chuyện tương tự cũng diễn ra tại xã Phúc Lộc. Tại xã có 5 bến thủy kiêm điểm trung chuyển vật liệu trên địa bàn đã tồn tại ít nhất 15-16 năm. Qua nhiều lần kiểm tra, xử lý và hướng dẫn, hồ sơ pháp lý của các bến vẫn chưa được hoàn thiện, nhất là thủ tục về đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất và điều kiện hoạt động.
Chị Nguyễn Thị N, chủ một bến vật liệu xây dựng tại xã Phúc Lộc cho biết, gia đình nối tiếp nghề từ đời bố mẹ. Bến trước đây là đất thuê của xã; khi quy định thay đổi, hồ sơ lần lượt được chuyển từ xã lên huyện, rồi thành phố. Chị bắt đầu làm thủ tục xin thuê đất, xin cấp phép từ khoảng năm 2017-2018, từng nhận giấy hẹn của cơ quan chuyên môn, nhưng quá trình giải quyết kéo dài và tiếp tục bị gián đoạn khi tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính thay đổi. “Chúng tôi rất muốn được hoạt động chính danh, tuân thủ đầy đủ quy định để không lo bị kiểm tra, xử phạt”, chị N chia sẻ.
Khi còn hoạt động, bến bãi của chị N sử dụng khoảng 30 lao động. Sau khi bến dừng, chị vẫn hỗ trợ một số lao động từ 3 đến 5 triệu đồng mỗi tháng để giữ chân những người có tay nghề. “Những lao động này đã làm việc nhiều năm, có kinh nghiệm vận hành máy móc, phương tiện. Nếu họ chuyển hẳn sang nghề khác thì sau này, kể cả khi bến được phép hoạt động trở lại, doanh nghiệp cũng rất khó tìm người thay thế”, chị N cho hay.
Một chủ bến bãi (đề nghị không nêu tên) ở xã Vĩnh Thanh chia sẻ: “Doanh nghiệp hoạt động chân chính gặp nhiều khó khăn bởi chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về tài chính với Nhà nước; trong khi một số bến bãi hoạt động “chui” không phải thực hiện nghĩa vụ này. Rất mong cấp thẩm quyền định hướng rõ về quy hoạch để doanh nghiệp có hướng đầu tư; đồng thời quản lý chặt các bến bãi để tạo sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trong hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng”.
Không thể chỉ đóng mà chưa mở lối hợp pháp
Đại diện Đội Cảnh sát đường thủy số 1 (Phòng Cảnh sát Giao thông, Công an thành phố Hà Nội) cho biết, bến vật liệu xây dựng có thể chia thành 3 nhóm: Bến được cấp phép và còn thời hạn hoạt động; bến từng được cấp phép nhưng đã hết hạn; bến tự phát, chưa từng được cấp phép. Việc phân loại rõ từng nhóm có ý nghĩa quan trọng, bởi nguyên nhân và cách xử lý không giống nhau. Với bến tự phát, không phù hợp quy hoạch, vi phạm hành lang thoát lũ hoặc không bảo đảm điều kiện an toàn, việc ngăn chặn, giải tỏa là cần thiết. Với những bến từng được cấp phép, đã hoạt động nhiều năm, phù hợp định hướng quy hoạch và chủ cơ sở có nhu cầu hoàn thiện thủ tục, vấn đề không thể chỉ dừng ở yêu cầu đóng cửa.
Qua tiếp xúc, đại diện Đội Cảnh sát Giao thông đường thủy số 1 nhận thấy, phần lớn chủ bến không muốn hoạt động “chui” hay né tránh lực lượng chức năng. Họ mong được cấp phép hoặc gia hạn, sẵn sàng hoàn thiện hồ sơ và thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý. Tuy nhiên, số bến được cấp giấy phép mới hoặc gia hạn giấy phép trong thời gian gần đây chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Cùng với sinh kế là nhu cầu vật liệu xây dựng cho các dự án và đời sống dân sinh ngày càng lớn. Khi các điểm cung ứng ở gần bị đóng cửa, vật liệu phải vận chuyển xa hơn, làm tăng chi phí và áp lực giao thông. Tuy nhiên, nhu cầu ấy không thể là lý do kéo dài hoạt động trái phép. Cần mở một con đường hợp pháp, minh bạch và có kiểm soát cho những cơ sở thực sự đủ điều kiện hoạt động.
Đây cũng là mong muốn của chính quyền các địa phương. Theo UBND xã Phúc Lộc, việc hoàn thiện hồ sơ đầu tư, đất đai và các thủ tục liên quan đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khách quan do sự thay đổi, chồng chéo của hệ thống pháp luật qua các thời kỳ. Trong khi đó, doanh nghiệp đã đầu tư lớn về hạ tầng, kho bãi, phương tiện và duy trì hoạt động ổn định trong thời gian dài. Nếu không có cơ chế hướng dẫn, tháo gỡ phù hợp sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc làm của người lao động, nguồn cung vật liệu xây dựng, đồng thời gây lãng phí nguồn lực đất đai ven sông và các nguồn lực xã hội đã đầu tư.
“Việc xem xét tháo gỡ khó khăn đối với các bến bãi hiện hữu là hết sức cấp thiết, nhằm ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thông nguồn lực đất đai ven sông, phát huy tiềm năng logistics đường thủy và tạo động lực phát triển kinh tế cho địa phương và khu vực” - Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Phúc Lộc Nguyễn Minh Trọng nhấn mạnh.
Tại phường Sơn Tây, địa phương cũng tư vấn các cơ sở liên kết lập dự án đủ quy mô thay vì mỗi hộ làm hồ sơ riêng trên một diện tích nhỏ. Ở xã Trung Giã, quy hoạch 2 khu cảng Đa Phúc, An Lạc và khu vực nghiên cứu khoảng 100ha cho hoạt động trung chuyển, xử lý, tái chế chất thải xây dựng cũng mở ra một hướng tổ chức lại các điểm nhỏ lẻ. Còn đại diện xã Quảng Oai kiến nghị, quy hoạch phải đi trước một bước, tạo cơ sở để doanh nghiệp tiếp cận đất đai, đầu tư bến bãi hợp pháp.
Những đề xuất từ cơ sở không nhằm giữ lại mọi bến hiện hữu, mà đòi hỏi tiêu chí phân loại rõ: Bến không phù hợp phải giải tỏa; bến phù hợp nhưng thiếu điều kiện cần được hướng dẫn hoàn thiện; khu vực cần tích hợp thành dự án tập trung; hồ sơ do cơ quan nào chủ trì và giải quyết trong thời hạn nào? Khi chưa có câu trả lời đến cùng, doanh nghiệp tiếp tục chờ, người lao động mất việc làm, địa phương phải giám sát những bến đã đóng, còn thị trường phải tìm nguồn vật liệu ở nơi khác.
Tháo gỡ không có nghĩa hợp thức hóa mọi tồn tại. Những vi phạm ảnh hưởng tới dòng chảy, hành lang thoát lũ, an toàn đê điều hoặc hình thành do lấn chiếm đất phải được xử lý nghiêm. Với vị trí phù hợp với quy hoạch, đáp ứng điều kiện an toàn và có nhà đầu tư đủ năng lực, một quy trình minh bạch sẽ giúp đưa hoạt động từ tự phát sang có kiểm soát và xác lập đầy đủ trách nhiệm trước pháp luật. Giữa yêu cầu “đóng” những bến không đủ điều kiện và nhu cầu “mở” hệ thống cung ứng vật liệu hợp pháp, Hà Nội cần cách tiếp cận phân loại minh bạch, khả thi để doanh nghiệp có “lối ra” và chính quyền quản lý đất bãi đúng quy hoạch, pháp luật.
(Còn nữa)











