Quảng Ngãi: Lộ diện hàng loạt sai phạm khai thác khoáng sản – Đừng để xã hội gánh "khoản nợ" môi trường
Thanh tra 65 dự án khai thác khoáng sản tại khu vực Kon Tum (cũ) chỉ ra hàng loạt tồn tại từ quản lý sản lượng, trạm cân, camera đến ký quỹ và phục hồi môi trường.
Kết luận thanh tra 65 dự án khai thác khoáng sản tại Quảng Ngãi và các khu vực lân cận vừa bóc trần hàng loạt sai phạm nghiêm trọng: từ thất thu thuế, "tê liệt" trạm cân giám sát, đến việc chây ì hàng tỷ đồng tiền ký quỹ phục hồi môi trường. Đằng sau những lỗ hổng quản lý này là một nguy cơ hiện hữu: Doanh nghiệp trục lợi tài nguyên, trong khi xã hội và người dân phải oằn mình gánh chịu những "khoản nợ" môi trường khổng lồ.
Vi phạm không chỉ nằm ở nghĩa vụ tài chính
Kết luận thanh tra số 154/KL-TTr ngày 30/6/2026 của Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi cho thấy công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tại khu vực Kon Tum cũ còn nhiều hạn chế.

Quảng Ngãi lộ diện hàng loạt sai phạm, khoảng trống môi trường sau thanh tra.
Cụ thể; trong 65 dự án được kiểm tra, 41 dự án có sai phạm về nghĩa vụ tài chính, với tổng số tiền hơn 9,336 tỷ đồng. Các sai phạm chủ yếu liên quan đến kê khai thiếu khối lượng tính thuế tài nguyên, áp dụng sai giá tính thuế, kê khai thiếu khối lượng tính phí bảo vệ môi trường và xác định chưa đúng mức thu, hệ số tính phí.
Trong số các doanh nghiệp được thanh tra, Công ty TNHH Huy Hoàng là trường hợp đáng chú ý khi không đến làm việc, không gửi báo cáo và không phản hồi bằng văn bản dù đã được thông báo nhiều lần. Qua xác minh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không có mặt tại nơi sinh sống, địa điểm kinh doanh và khu vực khai thác; giai đoạn 2019–2025, quyết toán thuế không phát sinh doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, Công ty Cổ phần T&D Kon Tum ngoài phạm vi kết luận 154, Công ty này từng bị UBND xã Ngọc Bay xử phạt 40 triệu đồng vào tháng 4/2026 do khai thác cát lòng sông Đăk Bla vào ban đêm, không đúng khung thời gian được phép; trước đó doanh nghiệp này bị xử phạt 30 triệu đồng vì không thực hiện thống kê sản lượng cát qua trạm cân theo quy định. Đây là một trường hợp cho thấy việc kiểm soát thời gian khai thác và dữ liệu sản lượng có ý nghĩa trực tiếp đối với quản lý tài nguyên và môi trường.
Dưới góc độ môi trường, đây không đơn thuần là câu chuyện thuế, phí hay thất thu ngân sách.
Thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và tiền cấp quyền khai thác là những công cụ kinh tế nhằm điều tiết hoạt động khai thác tài nguyên. Khi sản lượng khai thác và nghĩa vụ tài chính không được xác định chính xác, một phần giá trị tài nguyên và chi phí môi trường có nguy cơ không được phản ánh đầy đủ trong hoạt động sản xuất.
Điều này đặt ra yêu cầu phải kiểm soát chặt chẽ hơn toàn bộ quá trình từ khai thác, vận chuyển đến kê khai sản lượng.
Khoảng trống giám sát sản lượng, tăng rủi ro môi trường
Kết quả thanh tra cho thấy 25 dự án chưa thực hiện đầy đủ việc lập, quản lý và lưu giữ bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt khu vực khai thác.
Trong đó, 17 dự án chưa thống kê, kiểm kê đầy đủ sản lượng khoáng sản khai thác thực tế theo từng năm; 11 dự án khai thác không đúng trình tự khu vực theo hồ sơ thiết kế mỏ được phê duyệt.

Nhiều trạm cân lắp đặt sai vị trí không sử dụng đúng mục đích trong việc kiểm soát khối lượng khoáng sản khi đưa ra khỏi mỏ.
Đáng chú ý, 14 dự án có tồn tại liên quan đến trạm cân, camera giám sát tại kho chứa; 4 dự án đã lắp đặt nhưng không lưu dữ liệu các lượt xe vận chuyển khoáng sản qua trạm cân. “Những hạn chế này tạo ra khoảng trống trong giám sát tài nguyên và môi trường”.
Theo đó, khi không xác định được chính xác lượng khoáng sản đã khai thác, cơ quan quản lý sẽ khó đánh giá mức độ khai thác thực tế so với trữ lượng được cấp phép. Đồng thời, việc xác định nghĩa vụ tài chính và kiểm soát các tác động môi trường cũng trở nên khó khăn hơn. Bởi với tài nguyên không tái tạo, mỗi khối khoáng sản khai thác vượt kiểm soát đều đồng nghĩa với việc một phần tài sản tự nhiên của xã hội bị chuyển dịch mà thiếu công cụ giám sát tương xứng.
Hơn 2,8 tỷ đồng ký quỹ phục hồi môi trường còn thiếu
Một trong những vấn đề đáng chú ý nhất về trách nhiệm môi trường là đến ngày 31/12/2025, có 44 chủ dự án còn nợ hơn 2,819 tỷ đồng tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, chưa tính yếu tố trượt giá.
Về bản chất, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường là nguồn lực tài chính nhằm bảo đảm doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm sau khai thác.

Trạm cân được lắp đặt nhưng hoạt động mang tính đối phó, chưa phát huy hiệu quả trong kiểm soát sản lượng khoáng sản khai thác.
Do đó, việc chậm hoặc thiếu ký quỹ không chỉ là vấn đề thủ tục. Nó làm giảm nguồn lực tài chính bảo đảm cho quá trình phục hồi môi trường khi dự án kết thúc. Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với các dự án khai thác khoáng sản bởi tác động môi trường có thể kéo dài vượt xa thời gian doanh nghiệp trực tiếp khai thác. Nếu doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phục hồi, phần chi phí còn lại có nguy cơ chuyển sang Nhà nước và cộng đồng.
Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, đây chính là nguy cơ xã hội hóa chi phí môi trường: doanh nghiệp hưởng lợi từ tài nguyên nhưng xã hội phải gánh một phần chi phí khắc phục hậu quả.
Mỏ hết hạn nhưng trách nhiệm môi trường chưa kết thúc
Qua kết luận Thanh tra, trong giai đoạn 2020–2025, có 50 mỏ hết thời hạn khai thác và đã nộp hồ sơ đóng cửa mỏ.
Tuy nhiên, việc xử lý chưa hoàn tất đồng loạt. Có 9 điểm mỏ đã được tham mưu ban hành quyết định đóng cửa; 4 điểm mỏ đang được thẩm định; 12 điểm mỏ đang hoàn thiện hồ sơ và 25 hồ sơ còn lại đang được kiểm tra, xử lý.
Thanh tra cũng chỉ ra việc chưa kịp thời đôn đốc hoặc xử lý đối với 9 giấy phép khai thác đã hết hạn hoặc chấm dứt hiệu lực để thực hiện đóng cửa mỏ theo quy định. Điều này cho thấy một vấn đề căn bản: giấy phép hết hạn không có nghĩa trách nhiệm môi trường đã kết thúc.
Bởi, một khu vực khai thác chỉ thực sự được khép lại khi hoàn thành việc đóng cửa mỏ, cải tạo địa hình và phục hồi môi trường theo phương án được phê duyệt.
Theo đó, nếu quá trình này kéo dài, các rủi ro về đất, nước, địa hình, cảnh quan và an toàn khu vực có thể tiếp tục tồn tại, trong khi chi phí phục hồi có thể tăng theo thời gian.
Trách nhiệm phải đi cùng với quyền khai thác
Kết luận thanh tra xác định trách nhiệm của cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Về phía các chủ mỏ, một số doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ quy định trong giấy phép; chưa nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo, thống kê, kiểm kê trữ lượng; chậm thực hiện đóng cửa mỏ, cải tạo, phục hồi môi trường và chưa hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính.
Về phía cơ quan quản lý, thanh tra chỉ ra những hạn chế trong kiểm tra, đôn đốc, quản lý thuế, xử lý hồ sơ đóng cửa mỏ và phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn.

Công tác bảo vệ môi trường cần được thực hiện song hành với hoạt động khai thác khoáng sản, nhằm hạn chế bụi, nước thải, sạt lở và phục hồi cảnh quan sau khai thác.
Trong đó, Quản lý tài nguyên khoáng sản không thể chỉ dựa vào hồ sơ doanh nghiệp tự kê khai. Cơ quan quản lý cần có dữ liệu độc lập, công cụ giám sát và nguồn nhân lực đủ để kiểm chứng sản lượng, diện tích khai thác, tiến độ phục hồi và nghĩa vụ tài chính.
Từ kết quả thanh tra, vấn đề lớn nhất không chỉ là xử lý từng sai phạm cụ thể mà là bịt những khoảng trống khiến vi phạm có thể phát sinh và kéo dài.
Trước hết, cần khép kín chuỗi dữ liệu từ bản đồ hiện trạng – khu vực khai thác – sản lượng – trạm cân – camera – phương tiện vận chuyển – hóa đơn – nghĩa vụ tài chính.
Tiếp đó, phải quản lý từng mỏ theo toàn bộ vòng đời, từ cấp phép, khai thác đến đóng cửa và phục hồi. Các khoản ký quỹ phải được theo dõi đầy đủ, cập nhật yếu tố trượt giá và bảo đảm có đủ nguồn lực cho phục hồi.
Đối với những mỏ hết hạn, cần có cơ chế giám sát riêng để bảo đảm không xảy ra tình trạng “hết giấy phép nhưng chưa hết trách nhiệm môi trường”.
Quan trọng hơn, hiệu quả của một dự án khai khoáng cần được đánh giá không chỉ bằng doanh thu, lợi nhuận hay lượng vật liệu cung cấp cho thị trường, mà phải tính cả giá trị tài nguyên đã sử dụng và chi phí môi trường phải trả trong suốt vòng đời dự án.
Khép lại trách nhiệm để mở ra phát triển bền vững
Khai thác khoáng sản là hoạt động cần thiết cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vật liệu phục vụ hạ tầng ngày càng lớn. Nhưng phát triển không thể đánh đổi bằng việc để lại những “khoản nợ” môi trường.
Kết luận thanh tra 154 cho thấy những khoảng trống từ quản lý sản lượng, giám sát khai thác đến ký quỹ và đóng cửa mỏ đều có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả bảo vệ môi trường.
Bài toán đặt ra là phải chuyển từ quản lý theo từng thủ tục sang quản trị theo toàn bộ vòng đời tài nguyên.
Theo đó, Doanh nghiệp khai thác phải chịu trách nhiệm tương xứng với lợi ích nhận được từ tài nguyên. Cơ quan quản lý phải bảo đảm tài nguyên được khai thác đúng giới hạn, nguồn thu được thu đúng, chi phí môi trường được tính đủ và môi trường sau khai thác được phục hồi. Đây là nguyên tắc cốt lõi của kinh tế môi trường: người hưởng lợi từ tài nguyên phải có trách nhiệm với chi phí môi trường mà hoạt động khai thác tạo ra.
Qua đó, khi trách nhiệm được thực hiện đầy đủ, khoáng sản mới thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững, thay vì biến lợi ích kinh tế trước mắt thành chi phí môi trường cho cộng đồng xã hội.

