Quảng Ninh phát huy nội lực, tạo sinh kế cho vùng dân tộc thiểu số
Quảng Ninh đang triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng phát huy vai trò chủ thể của người dân, phát triển sinh kế gắn với bảo tồn văn hóa, nâng cao nhận thức pháp luật và khơi dậy nội lực cộng đồng.
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Quảng Ninh đang tập trung rà soát đối tượng, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, đồng thời phát huy lợi thế về sản phẩm đặc trưng, văn hóa và điều kiện tự nhiên để tạo sinh kế cho người dân. Cùng với phát triển kinh tế, địa phương chú trọng tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng.

Bà Ân Thị Thìn, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo TP Quảng Ninh.
Trao đổi với phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc, bà Ân Thị Thìn, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo TP Quảng Ninh, chia sẻ về những cách làm của địa phương trong triển khai Chương trình, phát triển sinh kế, bảo tồn văn hóa và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thưa bà, Chương trình mục tiêu quốc gia đang được Quảng Ninh triển khai như thế nào?
Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 tại Quảng Ninh được thực hiện theo Quyết định 417. Hợp phần 1 được giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì triển khai; hợp phần 2 giao Sở Dân tộc và Tôn giáo chủ trì tham mưu, thực hiện.
Từ tháng 6 đến nay, chương trình đã được triển khai vào thực tiễn vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sở Nông nghiệp và Môi trường đang tích cực hướng dẫn, đôn đốc các địa phương rà soát, khảo sát đối tượng thụ hưởng.
Sở Dân tộc và Tôn giáo tập trung khảo sát, rà soát đối tượng, nghiên cứu, xem xét để tham mưu các cơ chế, chính sách phù hợp, tránh trùng lặp với những chính sách, đề án mà các sở, ngành khác đang triển khai trên địa bàn.
Chúng tôi phải khảo sát thật kỹ, đánh giá và lọc ra những nội dung, nhiệm vụ chưa có chính sách hoặc chưa trùng lặp với các đề án đang thực hiện thì mới tham mưu cơ chế, chính sách mới
Hiện nay, một trong những việc chúng tôi tập trung là khảo sát những đối tượng có khả năng xây dựng mô hình khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc này không chỉ khảo sát người dân tộc thiểu số mà cả người Kinh và các dân tộc khác trên địa bàn, miễn là có nhu cầu.
Sau khi rà soát, những nội dung đã có chính sách thì tiếp tục thực hiện; những cơ chế, chính sách chưa được triển khai, chưa trùng lặp sẽ được nghiên cứu, tham mưu UBND và HĐND TP Quảng Ninh những chính sách phù hợp.
Những mô hình sinh kế nào đang phát huy hiệu quả ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Quảng Ninh, thưa bà?
Các mô hình sinh kế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Quảng Ninh rất đa dạng, gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, phát triển dược liệu và cả du lịch cộng đồng gắn với văn hóa.
Một số mô hình đã được ghi nhận và có triển vọng nhân rộng. Trà hoa vàng đã được công nhận sản phẩm OCOP 5 sao, phát triển rộng ở khu vực Ba Chẽ trước đây và hiện gồm cả các xã Kỳ Thượng, Lương Minh, Hải Sơn.
Miến dong là sản phẩm nổi tiếng ở Bình Liêu và Đại Dực. Bà con tiếp tục phát huy nghề truyền thống, đồng thời sản phẩm này đã được UBND tỉnh trước đây, nay là TP Quảng Ninh, phê duyệt là một trong những nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Nghề miến dong đã được đưa vào quy hoạch đầu tư bước đầu và thời gian tới sẽ tiếp tục nâng hạng sản phẩm.
Gà Tiên Yên cũng là sản phẩm OCOP có thương hiệu của địa phương. Không chỉ người dân Tiên Yên mà đồng bào ở Ba Chẽ cũng đang nhân rộng giống gà này. Giống gà Tiên Yên đã được đưa đến một số địa phương khác để nhân rộng.
Đáng chú ý, Tiên Yên đang hướng tới khai thác cả giá trị văn hóa của sản phẩm, như tổ chức thi gà đẹp, thi đôi gà, cặp gà đẹp hằng năm, qua đó góp phần phát triển du lịch.
Ngoài ra còn có nhiều sản phẩm xuất phát từ chính người dân tộc thiểu số như mật ong, ba kích và các cây dược liệu khác. Trà hoa vàng cũng là một sản phẩm dược liệu. Tỉnh đang có chủ trương phát triển y học cổ truyền gắn với y học hiện đại, qua đó phát huy các vùng sản xuất cây thuốc và tri thức dân gian của đồng bào.
Ở khu vực có điều kiện tự nhiên phù hợp, người dân cũng tận dụng lợi thế để phát triển những mô hình mới. Tại Cao Ba Lanh, khu vực Hoành Mô, đồng bào dân tộc thiểu số đã phát huy nguồn nước để nuôi cá tầm. Đồng bào Sán Dìu ở Vân Đồn tận dụng vùng biển để phát triển nuôi hàu, nuôi lồng bè, cá nước mặn, tôm và các loại hải sản, đem lại thu nhập cao.
Bên cạnh đó, một số mô hình du lịch cộng đồng đang manh nha phát triển, gắn với kinh tế xanh, kinh tế sạch và phát huy giá trị văn hóa đa dân tộc. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực có khó khăn bởi vùng đồng bào dân tộc thiểu số Quảng Ninh không còn giữ được không gian văn hóa cổ truyền đậm nét như một số vùng Tây Bắc
Hiện nay, việc phát triển kinh tế được gắn với bảo tồn và phát huy văn hóa như thế nào, thưa bà?
Khi Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân ra đời, cùng với Nghị quyết 20 về phát triển kinh tế tập thể trước đó, Sở Dân tộc và Tôn giáo đã tổ chức các tọa đàm, diễn đàn với người có uy tín và những người có mô hình phát triển kinh tế nổi trội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tại các tọa đàm, chúng tôi mời các sở, ngành có chức năng như Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Liên minh Hợp tác xã, Hiệp hội Doanh nghiệp, cơ quan thuế, Ngân hàng Chính sách xã hội cùng tham gia tư vấn, hỗ trợ bà con.
Chúng tôi lựa chọn người có uy tín trước, sau đó từ những người này lan tỏa đến cộng đồng. Qua tọa đàm, bà con có cơ hội chia sẻ những thuận lợi, khó khăn, những điều còn băn khoăn trong phát triển kinh tế tập thể. Chẳng hạn, từ một hộ kinh doanh muốn phát triển thành hợp tác xã, hoặc muốn liên kết với những hộ xung quanh thì cần làm gì, có khó khăn gì.
Sau các tọa đàm, nhiều người có uy tín đã vận động con cháu, người thân thành lập hợp tác xã, các nhóm kinh doanh nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Điều quan trọng là nhận thức của bà con đã thay đổi rất lớn, mạnh dạn hơn trong phát triển kinh tế, liên kết sản xuất.
Bà có thể cho biết, Quảng Ninh đang có cách làm gì để đưa pháp luật đến gần đồng bào?
Trong tuyên truyền, vận động vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Quảng Ninh huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc, từ cấp tỉnh xuống cấp xã, thôn, bản, với nhiều hình thức phù hợp từng địa bàn, từng nhóm đối tượng.
Chúng tôi kết hợp tuyên truyền truyền thống với những cách làm mới. Nhưng tuyên truyền không phải chỉ nói một chiều. Với từng nội dung, chúng tôi đặt tình huống để người nghe cùng tham gia.
Ví dụ, tuyên truyền về an toàn giao thông thì đưa ra tình huống để người dân trả lời, trao đổi. Với pháp luật dân sự, có thể đặt ra những tranh chấp nhỏ trong gia đình, hàng xóm hoặc tranh chấp đất rừng - những vấn đề thường xuyên xảy ra để người dân nói lên cách nghĩ, cách xử lý của mình. Từ đó, cán bộ tuyên truyền mới phân tích quy định pháp luật và hướng dẫn cách thực hiện.
Gần đây, chúng tôi cũng áp dụng công nghệ số, nhưng đang vừa làm, vừa theo dõi mức độ tiếp nhận của người dân. Có nơi người dân hào hứng với công nghệ số, nhưng cũng có nơi vẫn mong muốn được nghe theo cách truyền thống, vì vậy hai hình thức này phải được kết hợp.
Hằng năm, các sở, ngành xuống trực tiếp cơ sở, phân theo xã, thôn và từng nhóm đối tượng. Với học sinh, thanh thiếu niên, thường tổ chức vào mùa hè; nếu tổ chức trong năm học thì thực hiện tại trường mẫu giáo, trường bán trú, nội trú, thông qua hoạt động ngoại khóa hoặc diễn đàn buổi tối. Qua việc để các em bày tỏ quan điểm, chúng tôi xác định các em còn thiếu kiến thức ở đâu để tập trung vào đúng nội dung đó.
Với nông dân, người cao tuổi, cũng phải chia thành từng nhóm, lựa chọn địa điểm, thời gian phù hợp. Có khi phải chọn những ngày mưa, lúc người dân không đi rừng, đi nương để họ có thể tập trung nghe tuyên truyền. Không thể chỉ làm theo kế hoạch của mình.
Phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số cũng được thực hiện, nhưng có khó khăn vì một cộng đồng có thể gồm nhiều dân tộc. Nếu chỉ chọn một ngôn ngữ thì một bộ phận người dân có thể khó tiếp thu. Vì vậy, tiếng phổ thông vẫn là chủ yếu. Tuy nhiên, cán bộ phải nói chậm, dễ hiểu để người dân có thể tiếp nhận.
Ở cơ sở cũng có nhiều cách làm sáng tạo. Có nơi trưởng thôn đi xe máy, chở theo một phát thanh viên là thanh niên hoặc phụ nữ, mang theo loa để đi từng ngõ tuyên truyền.
Đặc biệt, người có uy tín phát huy vai trò rất tốt. Họ không chỉ tuyên truyền tại các cuộc họp mà còn đến từng gia đình, hôm nay đến nhà này, ngày mai đến nhà khác, kiên trì vận động theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Chính uy tín của họ giúp tác động tích cực đến nhận thức của người dân.
Bà đánh giá thế nào về kết quả và những vấn đề đặt ra thời gian tới?
Trong Chương trình mục tiêu quốc gia, Quảng Ninh luôn xác định người dân là chủ thể trung tâm, chứ không chỉ là người thụ hưởng. Các sở, ngành, chính quyền có vai trò định hướng, đồng hành cùng người dân thực hiện.
Giai đoạn vừa qua vẫn còn một số khó khăn. Về cơ chế, chính sách, giai đoạn trước có những khoảng trống thì giai đoạn này lại xuất hiện một số vấn đề mới. Chẳng hạn, những khoản đầu tư lớn vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số có thể bị thiên tai bất thường xóa đi kết quả. Chúng tôi đã có các biện pháp phòng ngừa, nhưng không thể tránh hết những diễn biến bất ngờ của thiên tai.
Khó khăn nữa là phải tiếp tục thay đổi tư tưởng trông chờ, ỷ lại ở một bộ phận người dân. Chẳng hạn, nhận thức của một số phụ nữ dân tộc thiểu số ở thôn, bản sâu, xa vẫn có tâm lý trông chờ vào người chồng. Nếu người chồng không may gặp vấn đề thì gia đình lại có nguy cơ trở thành hộ khó khăn.
Vì vậy, chúng tôi thường xuyên thông qua người có uy tín để tuyên truyền về tinh thần tự lực, đồng thời phối hợp với Hội Phụ nữ và chính quyền địa phương để vận động, tháo gỡ những bất cập.
Đến hết năm 2025, chúng tôi đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia đạt hiệu quả cao. Quảng Ninh không còn hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều của Trung ương và đã nâng chuẩn nghèo ở chiều thu nhập.
Thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của người dân, để người dân không chỉ thụ hưởng chính sách mà trực tiếp tham gia, chủ động phát triển kinh tế, tạo sinh kế, giữ gìn văn hóa và xây dựng cuộc sống bền vững.

