Điều hành phải đi trước diễn biến thị trường
Chín tháng năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng sức ép giá cả cũng hiện hữu khi CPI bình quân đã tăng 4,52%. Dư địa kiểm soát giá vì vậy không còn rộng. Phóng viên Báo Nhân Dân phỏng vấn chuyên gia kinh tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam về vấn đề này.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long.
Ba sức ép cần đặc biệt lưu ý
Phóng viên: Thưa ông, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân chín tháng đã tăng 4,52% trong khi mục tiêu kiểm soát CPI cả năm 2026 Quốc hội giao là 4,5%. Ông nhận định thế nào về dư địa cho công tác kiểm soát lạm phát quý IV?
Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long: Diễn biến lạm phát chín tháng và tháng 9/2026 đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho công tác điều hành những tháng cuối năm, đòi hỏi phải vừa bảo đảm thúc đẩy tăng trưởng, vừa không để áp lực chi phí, tổng cầu và kỳ vọng lạm phát cộng hưởng, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống nhân dân.
Điểm tích cực là cung-cầu các mặt hàng thiết yếu cơ bản được bảo đảm, sản xuất và lưu thông hàng hóa ổn định. Đây là nền tảng giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng cao và tránh những cú sốc giá diện rộng.
Tuy nhiên, không thể chủ quan. Theo Cục Thống kê, CPI tháng 9/2026 tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 4,20% so với tháng 12/2025 và tăng 5,08% so với cùng kỳ. Bình quân chín tháng, CPI tăng 4,52%; lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Khi khoảng cách giữa CPI chung và lạm phát cơ bản không còn lớn, sức ép giá đã có dấu hiệu lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế.
Cơ cấu tăng giá cũng đáng lưu ý. Bình quân chín tháng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,72%, làm CPI chung tăng 1,69 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%, làm CPI tăng 1,52 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,06%. Vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,07%, nhiên liệu tăng 10,89%. Đây đều là những nhóm có khả năng truyền dẫn chi phí sang sản xuất, vận tải và tiêu dùng. Áp lực còn xuất hiện từ đầu vào.
Chín tháng, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,12%; giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,37%; giá nhập khẩu hàng hóa tăng 2,56%. Khi chi phí đầu vào cao kéo dài, một phần tất yếu sẽ được chuyển vào giá bán.
Về số học, CPI bình quân chín tháng đã tăng 4,52%, tức đã nhỉnh hơn mức mục tiêu khoảng 4,5% của cả năm. Theo cách tính xấp xỉ, để đưa CPI bình quân cả năm trở lại quanh ngưỡng 4,5%, mức tăng CPI so với cùng kỳ của ba tháng cuối năm cần bình quân khoảng 4,4%.
Điều này đồng nghĩa đà tăng giá trong quý IV phải hạ nhiệt đáng kể so với tháng 9, khi CPI đã tăng 5,08% so với cùng kỳ. Nếu CPI những tháng cuối năm tiếp tục duy trì quanh hoặc trên 5%, mục tiêu 4,5% sẽ chịu sức ép lớn hơn. Vì vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm chưa ngoài tầm với, nhưng khoảng đệm chính sách đã mỏng hơn và yêu cầu phối hợp điều hành trong quý IV trở nên khắt khe hơn.
Phóng viên: Theo ông, đâu là những vấn đề cấp thiết đặt ra cho công tác điều hành giá những tháng cuối năm?
Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long: Theo tôi, có ba sức ép cần đặc biệt lưu ý. Thứ nhất là áp lực từ bên ngoài. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, nhiều ngành phụ thuộc đáng kể vào nguyên nhiên vật liệu, thiết bị và linh kiện nhập khẩu. Căng thẳng địa chính trị, biến động giá dầu, cước vận tải hoặc đứt gãy chuỗi cung ứng đều có thể nhanh chóng truyền vào chi phí sản xuất trong nước. Vì vậy, lạm phát nhập khẩu vẫn là rủi ro cần theo dõi sát.
Thứ hai là sức ép từ chính quá trình tăng trưởng cao. GDP chín tháng năm 2026 tăng 9,01%; riêng quý III tăng 9,95%. Công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%. Tuy nhiên, khi đầu tư, sản xuất và tiêu dùng cùng tăng nhanh, nhu cầu về điện, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, lao động, vận tải và tín dụng cũng tăng. Nếu năng lực cung ứng không mở rộng tương ứng, tổng cầu tăng mạnh có thể làm áp lực giá lớn hơn.
Bài toán điều hành vì vậy không phải lựa chọn giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, mà là tạo ra tăng trưởng ít gây sức ép giá hơn với yêu cầu dựa nhiều hơn vào năng suất, hiệu quả đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh và mở rộng năng lực cung.
Thứ ba là yếu tố mùa vụ và lộ trình điều chỉnh giá. Quý IV thường là thời điểm đầu tư, xây dựng, sản xuất và tiêu dùng tăng tốc; doanh nghiệp đồng thời chuẩn bị nguồn hàng cho Tết Nguyên đán.
Bên cạnh đó, giá điện, y tế, giáo dục và một số dịch vụ công cần tiếp tục điều chỉnh theo lộ trình, nhưng thời điểm và mức độ phải được tính toán kỹ để tránh tạo hiệu ứng cộng hưởng lên CPI.

Người dân mua thực phẩm tại siêu thị Co.opmart Cống Quỳnh, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: HỮU HẠNH)
Kiểm soát lạm phát phải bắt đầu từ bảo đảm nguồn cung
Phóng viên: Với thực trạng đó, cần có giải pháp trọng tâm gì để hóa giải khó khăn, bảo đảm mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm ở mức 4,5%, thưa ông?
Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long: Bối cảnh hiện nay đòi hỏi công tác điều hành phải chủ động, linh hoạt, đi trước diễn biến thị trường. Trước hết, chính sách tiền tệ và tài khóa phải tiếp tục phối hợp chặt chẽ. Trong một nền kinh tế tăng trưởng cao, điều quan trọng không chỉ là quy mô mà còn là hướng đi của dòng tiền.
Tín dụng cần ưu tiên cho sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, công nghiệp chế biến, chế tạo và các dự án tăng năng lực cung; đồng thời kiểm soát vốn vào những khu vực có tính đầu cơ cao. Không nên thắt chặt tiền tệ đồng loạt, nhưng cũng không thể mở rộng tín dụng bằng mọi giá.
Với chính sách tài khóa, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công vẫn cần thiết nhưng phải gắn với chất lượng dự án và khả năng hấp thụ vốn. Khi nhiều dự án cùng tăng tốc, cần theo dõi sát giá cát, đá, xi-măng, thép, nhân công và vận tải; kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn nguồn cung vật liệu, tránh để thiếu hụt cục bộ đẩy giá lên bất hợp lý.
Hai là, kiểm soát lạm phát phải bắt đầu từ bảo đảm nguồn cung. Với xăng dầu, điện, lương thực, thực phẩm và vật liệu xây dựng, cần chủ động cân đối nguồn hàng, dự trữ phù hợp và bảo đảm hệ thống phân phối thông suốt. Đối với xăng dầu, cần chuẩn bị các phương án về nguồn nhập khẩu, dự trữ và công cụ thuế, phí nếu giá thế giới tăng đột biến.
Ba là, điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý phải có lộ trình hợp lý, tránh dồn nhiều đợt tăng giá vào cùng một thời điểm. Điều chỉnh giá là cần thiết để phản ánh đúng chi phí và bảo đảm nguồn lực cho cung ứng dịch vụ, nhưng phải đánh giá đầy đủ tác động trực tiếp, tác động vòng hai và sức chịu đựng của người dân, doanh nghiệp.
Bốn là, cần giữ ổn định thị trường ngoại hối và hạn chế truyền dẫn lạm phát nhập khẩu. Tỷ giá cần được điều hành linh hoạt theo tín hiệu thị trường nhưng tránh biến động quá mức, qua đó giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong nhập khẩu nguyên liệu và hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ.
Năm là, phải nâng cao chất lượng dự báo và quản trị kỳ vọng lạm phát. Khi mặt bằng giá đã tiến sát mục tiêu, chính sách không thể chỉ phản ứng với số liệu đã xảy ra mà phải nhìn trước rủi ro trong ba đến sáu tháng. Cần thường xuyên cập nhật các kịch bản theo biến động của giá dầu, tỷ giá, lương thực, thực phẩm và lộ trình điều chỉnh các mặt hàng thiết yếu; đồng thời minh bạch thông tin để hạn chế đầu cơ và tâm lý tăng giá theo kỳ vọng.
Phóng viên: Nhiệm vụ bảo đảm mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát trong bối cảnh diễn biến địa chính trị thế giới tiếp tục có nhiều biến động khó lường là thách thức rất lớn đối với công tác điều hành. Theo ông, việc bảo đảm lạm phát mục tiêu trong giai đoạn này có ý nghĩa thế nào đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung?
Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long: Kiểm soát lạm phát không đơn thuần là giữ CPI dưới một con số mục tiêu. Đằng sau mỗi phần trăm tăng của giá cả là sức mua của đồng tiền, thu nhập thực tế của người lao động, chi phí của doanh nghiệp và đời sống của hàng triệu gia đình. Vì vậy, ổn định giá cả phải được xem là một bộ phận hữu cơ của ổn định kinh tế vĩ mô và chính sách bảo đảm an sinh xã hội.
Ba tháng cuối năm 2026 sẽ là giai đoạn thử thách năng lực phối hợp chính sách. Cần tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng nhưng không tạo sức ép quá mức lên tổng cầu; mở rộng tín dụng nhưng hướng vốn vào sản xuất; đẩy nhanh đầu tư nhưng đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn phía cung; điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường nhưng có lộ trình và lựa chọn thời điểm phù hợp.
Nếu làm tốt những việc đó, Việt Nam không chỉ có cơ sở kiểm soát lạm phát cả năm quanh mục tiêu đề ra mà còn củng cố niềm tin vào môi trường kinh tế vĩ mô ổn định. Đó là điều kiện quan trọng để bảo vệ thành quả tăng trưởng, giữ sức mua của người dân và tạo dư địa cho phát triển nhanh, bền vững hơn trong năm 2027 và những năm tiếp theo.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/dieu-hanh-phai-di-truoc-dien-bien-thi-truong-post993727.html

