Quảng Trị bứt phá nhờ sức mạnh dữ liệu
Sau một năm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, ngành Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị tạo dấu ấn với những bước tiến mạnh mẽ trong chuyển đổi số, đưa dữ liệu trở thành nền tảng phục vụ quản lý, cảnh báo và phát triển sản xuất.
Dẫn đầu về dữ liệu đất đai
Một trong những dấu ấn nổi bật nhất của ngành Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị sau một năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW là hoàn thành đồng bộ 100% dữ liệu đất đai của 78/78 xã, phường, đặc khu lên Hệ thống thông tin đất đai quốc gia (VNLIS).

Dữ liệu đất đai hiện nay đã được kết nối liên thông 100% với cơ quan Thuế, giúp xác định nghĩa vụ tài chính nhanh chóng, giảm các khâu đối chiếu thủ công.
Hơn 2,42 triệu thửa đất đã được cập nhật theo chế độ thời gian thực. Đáng chú ý, Quảng Trị hiện được đánh giá là địa phương dẫn đầu cả nước về tiến độ hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, một kết quả có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đất đai là lĩnh vực có khối lượng hồ sơ lớn, phức tạp và liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở việc số hóa dữ liệu mà ở khả năng đưa dữ liệu vào vận hành thực tế. Đến nay, dữ liệu đất đai đã được kết nối liên thông 100% với cơ quan Thuế, giúp quá trình luân chuyển thông tin phục vụ xác định nghĩa vụ tài chính được thực hiện nhanh chóng, giảm đáng kể các khâu đối chiếu, xử lý thủ công.
Hiệu quả của quá trình này được phản ánh qua tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính về đất đai được giải quyết đúng và sớm hạn đạt khoảng 98%.
Từ những tập hồ sơ giấy nặng nề, mất nhiều thời gian tra cứu, ngành đang từng bước chuyển sang phương thức quản lý dựa trên dữ liệu. Khi thông tin được chuẩn hóa và cập nhật theo thời gian thực, cơ quan quản lý có thêm cơ sở để xử lý công việc nhanh hơn, trong khi người dân và doanh nghiệp được hưởng lợi từ quy trình minh bạch, thuận tiện hơn.
Đây cũng là minh chứng cho một chuyển biến quan trọng trong tư duy quản lý: chuyển đổi số không chỉ là đưa hồ sơ lên môi trường điện tử, mà là biến dữ liệu thành công cụ phục vụ ra quyết định.
Từ phát hiện sau đến cảnh báo trước
Sức mạnh của dữ liệu còn được thể hiện rõ trong công tác bảo vệ rừng, phòng chống thiên tai và quản lý môi trường.
Quảng Trị hiện có 18 camera trí tuệ nhân tạo cùng mạng lưới 67 trạm đo mưa, 9 trạm đo mực nước và 40 camera giám sát thiên tai đang vận hành 24/7. Hệ thống liên tục thu thập, cập nhật dữ liệu, qua đó hỗ trợ phát hiện những biến động bất thường và cảnh báo sớm nguy cơ cháy rừng, phá rừng hoặc các diễn biến bất thường của thiên tai.

Camera AI cảnh báo sớm nguy cơ cháy rừng, phá rừng hoặc các diễn biến bất thường của thiên tai.
Khi xuất hiện dấu hiệu đáng chú ý, hệ thống có thể phát cảnh báo kèm tọa độ, giúp lực lượng chức năng nhanh chóng xác định vị trí, rút ngắn thời gian từ lúc phát hiện đến khi tổ chức xử lý.
Trong lĩnh vực môi trường, mạng lưới quan trắc tự động kết nối liên tục về trung tâm điều hành cũng đang góp phần thay đổi phương thức giám sát. Các thông số được cập nhật thường xuyên, tạo cơ sở để ngành theo dõi diễn biến chất lượng môi trường và kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường.
Trên biển, toàn bộ 4.632 tàu cá của tỉnh đã được chuẩn hóa dữ liệu và đưa vào hệ thống giám sát hành trình. Việc theo dõi vị trí tàu theo thời gian thực hỗ trợ lực lượng chức năng phát hiện các trường hợp vượt ranh giới cho phép hoặc mất tín hiệu kết nối, góp phần nâng cao hiệu quả chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Toàn bộ 4.632 tàu cá của tỉnh đã được chuẩn hóa dữ liệu và đưa vào hệ thống giám sát hành trình
Từ “phát hiện sau” sang “cảnh báo trước” cho thấy giá trị thực chất của chuyển đổi số trong công tác quản lý. Dữ liệu, khi được kết nối và phân tích kịp thời, không còn là những con số nằm trong báo cáo mà trở thành công cụ giúp cơ quan quản lý chủ động hơn trước những nguy cơ có thể xảy ra.
Đó cũng là sự thay đổi từ phương thức quản lý dựa vào báo cáo sang quản trị dựa trên dữ liệu, lấy khả năng dự báo và phản ứng nhanh làm một trong những yếu tố nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Công nghệ đi từ cánh đồng đến thị trường
Không chỉ tạo chuyển biến trong quản lý tài nguyên và môi trường, chuyển đổi số đang từng bước đi sâu vào sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh.
Quảng Trị hiện duy trì 55 mã số vùng trồng với diện tích gần 3.200 ha cùng các mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Những dữ liệu này trở thành nền tảng quan trọng trong quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của các thị trường.

Gần 300 sản phẩm OCOP đã được đưa lên các sàn thương mại điện tử, mở thêm kênh quảng bá và tiêu thụ cho sản phẩm cho địa phương.
Cùng với đó, gần 300 sản phẩm OCOP đã được đưa lên các sàn thương mại điện tử, mở thêm kênh quảng bá và tiêu thụ cho sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Một điểm mới là ngành đã đưa vào vận hành gian hàng trưng bày sản phẩm OCOP trên không gian thực tế ảo 3D có ứng dụng trí tuệ nhân tạo thuyết minh. Từ cách giới thiệu sản phẩm bằng hình ảnh, thông tin đơn thuần, hoạt động quảng bá đang từng bước chuyển sang môi trường số tương tác, giúp người tiêu dùng ở nhiều nơi có thể tiếp cận sản phẩm mà không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý.
Trên đồng ruộng, công nghệ cũng đang được đưa trực tiếp vào quá trình sản xuất. Drone đã được ứng dụng trong gieo sạ, bón phân và phun thuốc bảo vệ thực vật trên diện tích hơn 42.000 ha.
Việc ứng dụng thiết bị bay giúp giảm chi phí nhân công, tiết kiệm vật tư và nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời góp phần giảm tác động đến môi trường.

Drone đã được ứng dụng trong gieo sạ, bón phân và phun thuốc bảo vệ thực vật trên diện tích hơn 42.000 ha.
Từ vùng trồng được cấp mã số, sản phẩm OCOP được đưa lên sàn thương mại điện tử đến drone hoạt động trên đồng ruộng, công nghệ số đang từng bước hình thành một chuỗi giá trị mới cho nông nghiệp Quảng Trị, trong đó dữ liệu trở thành mắt xích xuyên suốt từ quản lý, sản xuất đến thị trường.
Dẫu vậy, ngành Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị cũng thẳng thắn nhìn nhận quá trình chuyển đổi số vẫn còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Dữ liệu giữa các lĩnh vực chưa liên thông đồng bộ; hạ tầng số tại tuyến cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, còn hạn chế; nhân lực chuyên trách công nghệ thông tin còn thiếu; mức độ ứng dụng công nghệ cao trong khu vực hợp tác xã chưa đồng đều.
Hiện tỷ lệ hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao mới đạt 14,9%, cho thấy dư địa để công nghệ lan tỏa sâu hơn vào sản xuất nông nghiệp vẫn còn rất lớn. Tỷ lệ thanh toán trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia đạt 46%, thấp hơn mục tiêu 70% đề ra cũng là một trong những vấn đề ngành cần tiếp tục cải thiện.
Trên cơ sở đó, ngành xác định các giải pháp cụ thể như xử lý dứt điểm những vướng mắc về đường truyền cơ sở dữ liệu môi trường trong năm 2026; nghiên cứu, thí điểm thuê dịch vụ điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo và GIS; đồng thời mở rộng ứng dụng nền tảng số trong quản trị, kinh doanh của các hợp tác xã.
Mục tiêu đến năm 2030 có trên 50% hợp tác xã nông nghiệp sử dụng nền tảng số trong quản trị, kinh doanh được kỳ vọng tạo thêm bước chuyển về chất, đưa chuyển đổi số từ nhóm mô hình tiên phong trở thành phương thức phổ biến hơn trong khu vực nông nghiệp.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế Môi trường, ông Trần Quốc Tuấn – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị cho biết: “Sau một năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, ngoài những con số ấn tượng về dữ liệu đất đai, hệ thống giám sát hay diện tích ứng dụng công nghệ. Có một phương thức quản trị mới đang từng bước hình thành, “lấy dữ liệu làm nền tảng, công nghệ làm công cụ và đổi mới sáng tạo làm động lực”.
“Từ đất đai, rừng, biển và môi trường đến cánh đồng và thị trường nông sản, dữ liệu đang được đánh thức để phục vụ những quyết định nhanh hơn, chính xác hơn. Đây được xem là nền tảng quan trọng để ngành tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ người dân, đồng hành cùng doanh nghiệp và tạo động lực cho nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững”, ông Tuấn nhấn mạnh.


