Quảng Trị:Từ số hóa di sản đến tạo nguồn lực phát triển
Quảng Trị đang xây dựng đề án chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch với tầm nhìn đến năm 2045. Hướng đi được đặt ra là chuẩn hóa dữ liệu di sản, kết nối bảo tồn với giáo dục, du lịch và sáng tạo văn hóa, mở thêm cơ hội sinh kế cho người dân.
Xây nền dữ liệu để khai thác lâu dài
Sáng 14.10, UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức hội thảo “Khoa học di sản, nguyên lý Cultural DNA và chuẩn mã hóa di sản”. Hội thảo tham vấn chuyên gia nhằm hoàn thiện cơ sở khoa học cho Đề án Chuyển đổi số và phát triển văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2026–2035, tầm nhìn đến năm 2045.

Toàn cảnh hội thảo do Sở VHTTDL tỉnh Quảng Trị tổ chức
Quảng Trị đã hình thành Ngân hàng số di sản văn hóa, số hóa nhiều di tích, hiện vật và đưa ứng dụng di sản lên thiết bị di động. Tuy nhiên, dữ liệu còn phân tán, thiếu đồng bộ; phần lớn di tích mới được số hóa ở mức hai chiều, chưa đáp ứng nhu cầu khai thác chuyên sâu. Nhân lực có kiến thức về di sản và năng lực công nghệ cũng còn thiếu.
Chuyển đổi số phải giúp di sản được gìn giữ đúng giá trị, lan tỏa đến công chúng và tạo thêm giá trị cho cộng đồng. Đề án cần được nghiên cứu kỹ về cơ sở khoa học, tính pháp lý và khả năng thực hiện.
Ông Hoàng Xuân Tân – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị
Dự thảo đề án lựa chọn Kho tài sản số văn hóa, thể thao và du lịch làm nơi kết nối dữ liệu của toàn ngành. Một hồ sơ hiện vật khi được chuẩn hóa có thể phục vụ nghiên cứu, xây dựng học liệu, thuyết minh tại bảo tàng hoặc làm chất liệu cho sản phẩm sáng tạo, tùy điều kiện tiếp cận và quyền sử dụng. Dữ liệu cần được tổ chức để nhiều đơn vị cùng khai thác, tránh mỗi nơi làm một phần rồi khó kết nối.
Ông Lê Minh Tuấn, Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Trị lưu ý, việc số hóa cần phản ánh được bối cảnh lịch sử, ý nghĩa văn hóa của di sản. Nguyên lý Cultural DNA được đề xuất để hỗ trợ nhận diện, tổ chức và diễn giải các giá trị ấy; bộ tiêu chí này không thay thế việc kiểm kê, ghi danh hay xếp hạng di sản.
Cách tổ chức thông tin phải giữ được những lớp lịch sử của từng di sản. Tài liệu hội thảo nêu một tình huống cụ thể: ngôi đình xây dựng thời Nguyễn, từng là cơ sở cách mạng rồi được trùng tu trong thời kỳ đương đại cần được ghi nhận thế nào cho đầy đủ? Phương án đưa ra tham vấn cho phép mỗi hồ sơ có một ô chính và những ô liên quan, giúp người tra cứu nhận biết các mối liên hệ thay vì chỉ nhìn di sản ở một thời điểm.
Để di sản tạo thêm giá trị cho cộng đồng
Trong không gian phát triển sau sáp nhập, Quảng Trị có điều kiện kết nối di sản thiên nhiên Phong Nha – Kẻ Bàng với hệ thống di tích lịch sử cách mạng, làng nghề và văn hóa các cộng đồng dân tộc thiểu số. Dự thảo định hướng hình thành những hành trình dựa trên hai trục “Vương quốc hang động” và “Hành trình tri ân – Khát vọng hòa bình”. Nội dung số được khai thác để giới thiệu điểm đến, hỗ trợ trải nghiệm tại chỗ và kết nối du khách với các hoạt động văn hóa địa phương.

Ông Hoàng Xuân Tân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị mong muốn việc chuyển đổi số phải giúp di sản được gìn giữ đúng giá trị, lan tỏa đến công chúng và tạo thêm giá trị cho cộng đồng.
Khả năng khai thác còn mở sang sách tương tác, phim hoạt hình lịch sử, thiết kế và sản phẩm thủ công. Một hoa văn, kỹ thuật truyền thống hay câu chuyện về nghề có thể trở thành chất liệu sáng tạo, kèm thông tin về xuất xứ và cộng đồng gìn giữ. Để người làm nghề tham gia được, tài liệu hội thảo về mô hình kinh tế đề xuất xem xét miễn, giảm mức thu cấp quyền trong giai đoạn đầu, đồng thời tính toán theo quy mô doanh thu.
Riêng với nội dung lịch sử, sự hấp dẫn của hình ảnh phải đi cùng căn cứ kiểm chứng. Tài liệu tham vấn đặt vấn đề phân biệt phần tái hiện từ hiện vật, ảnh tư liệu với phần nội suy hoặc giả định có luận cứ khoa học. Người xem cần biết chi tiết nào có tư liệu gốc, chi tiết nào được phục dựng trên cơ sở nghiên cứu, nhất là khi sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Dự thảo yêu cầu tôn trọng tính thiêng liêng của di tích chiến tranh cách mạng, bảo đảm chính xác lịch sử và tham vấn cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ. Với văn hóa dân tộc thiểu số, việc ghi âm, ghi hình được gắn với truyền dạy giữa nghệ nhân và người trẻ. Hợp phần ưu tiên về dân tộc Chứt dự kiến xây dựng từ điển số, lưu giữ ngữ liệu; chuẩn ký âm cần được thống nhất để tư liệu có thể tra cứu và sử dụng về sau.
Từ kho dữ liệu đến sản phẩm phục vụ công chúng còn nhiều việc phải làm: xác định quyền khai thác, phương pháp định giá, nguồn kinh phí bảo quản và đội ngũ vận hành. Dự thảo đề xuất cơ chế chia sẻ lợi ích, đồng thời xác định việc khai thác những dữ liệu có quy tắc truyền thống hạn chế tiếp cận phải được cộng đồng chủ thể cho phép. Với người dân, kết quả cần thể hiện ở những việc gần gũi: học sinh có thêm học liệu về quê hương, nghệ nhân có điều kiện trao truyền, làng nghề có sản phẩm mới và du khách có thêm lý do để tìm hiểu, trải nghiệm.

Nhiều chuyên gia đã có những ý kiến đóng góp hữu ích trong việc tạo những mô hình kinh tế, thương mại hoá tài sản số, sở hữu trí tuệ và huy động nguồn lực phát triển.
Dự thảo gồm 13 dự án thành phần và một nhiệm vụ khoa học, công nghệ độc lập, tổng mức đầu tư khái toán khoảng 3.970 tỉ đồng. Định hướng đến năm 2035, công nghiệp văn hóa số đóng góp khoảng 3–5% GRDP, hướng tới 5–7% vào năm 2045. Kinh phí và các chỉ tiêu tiếp tục được chuẩn xác trong quá trình hoàn thiện, thẩm định hồ sơ.
Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/tu-so-hoa-di-san-den-tao-nguon-luc-phat-trien-274623.html

