Quảng Yên cụ thể hóa nghị quyết thành động lực phát triển
Sau Đại hội Đảng bộ xã lần thứ I, cấp ủy, chính quyền xã Quảng Yên tập trung cụ thể hóa nghị quyết bằng những nhiệm vụ sát thực tiễn, tạo chuyển biến trên các lĩnh vực. Từ phát triển sản xuất, XDNTM đến cải cách hành chính, chuyển đổi số, nghị quyết đang từng bước được hiện thực hóa bằng những kết quả cụ thể, tạo động lực phát triển địa phương.

Người dân thực hiện thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Quảng Yên.
Đảng bộ xã Quảng Yên hiện có 33 tổ chức cơ sở đảng với trên 1.400 đảng viên. Xác định đưa nghị quyết vào cuộc sống là nhiệm vụ trọng tâm, Đảng ủy xã tập trung quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của tỉnh; đồng thời xây dựng chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế. Phương châm được xác định là rõ mục tiêu, sát cơ sở, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm thước đo.
Đồng chí Nguyễn Huy Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Quảng Yên, cho biết: “Sau sáp nhập, khối lượng công việc lớn, nhiều nhiệm vụ mới phát sinh. Tuy nhiên, với tinh thần đoàn kết và quyết tâm cao, Đảng bộ xã đã khẩn trương kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; đồng thời tập trung lãnh đạo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân”.
Thực tiễn ở cơ sở cho thấy, nghị quyết được cụ thể hóa từ những việc làm thiết thực, phù hợp với từng địa bàn. Tại thôn Trung Đào, chi bộ tập trung vận động Nhân dân phát triển kinh tế, xây dựng vùng sản xuất liên kết, giữ gìn môi trường và nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM. Hiện, thôn đã hình thành được vùng sản xuất lúa tập trung gắn với liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm với diện tích hơn 20ha, vùng rau an toàn 10ha.
Theo bí thư chi bộ thôn Trung Đào Nguyễn Văn Hoán, việc xác định đúng tiềm năng, thế mạnh và lựa chọn cách làm phù hợp đã tạo sự đồng thuận trong Nhân dân. Đây cũng là cách nghị quyết của Đảng bộ xã được cụ thể hóa thành những mục tiêu gần dân, sát dân và thiết thực với đời sống.
Từ những mô hình cụ thể ở cơ sở, bức tranh kinh tế của Quảng Yên đang có những chuyển biến tích cực. Trong nông nghiệp, xã đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; quảng bá, nâng cao giá trị các sản phẩm OCOP. Toàn xã hiện có 421ha diện tích liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm; duy trì 46ha nuôi trồng thủy sản, với sản lượng 8 tháng năm 2026 ước đạt 495 tấn.
Cùng với nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và hoạt động kinh doanh được duy trì ổn định. Toàn xã có 105 doanh nghiệp, 2 quỹ tín dụng, 7 HTX và hơn 1.000 hộ kinh doanh, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Chương trình XDNTM tiếp tục được quan tâm, tập trung nâng cao chất lượng các tiêu chí xã, thôn NTM.
Trong thực hiện các công trình, dự án, cấp ủy, chính quyền xã tập trung tháo gỡ khó khăn, nhất là những vấn đề liên quan đến giải phóng mặt bằng. Đến nay, xã đã hoàn thành kiểm kê, đo đạc 15,3/15,3ha, đạt 100% kế hoạch; phê duyệt phương án bồi thường 13,22ha, đạt 86,4%; chi trả tiền bồi thường 10,46ha, đạt 68,36% kế hoạch. Việc tập trung giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án, tạo thêm nguồn lực cho phát triển.
Một điểm nhấn trong quá trình cụ thể hóa nghị quyết ở Quảng Yên là đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính. Xã đã hoàn thành 34/34 nhiệm vụ theo chỉ đạo của Trung ương về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; 100% cán bộ, công chức được bồi dưỡng kỹ năng số; 100% hồ sơ dịch vụ công trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt. Hạ tầng viễn thông được phủ rộng, 77,2% hộ gia đình có internet cáp quang; 16.868/21.123 người đã kích hoạt tài khoản định danh điện tử mức độ 2, đạt 79,85%.
Cùng với đó, cải cách hành chính ngày càng đi vào thực chất. Trong 8 tháng năm 2026, xã tiếp nhận 2.738 hồ sơ, trong đó 99,8% được tiếp nhận trực tuyến; đã giải quyết 2.575 hồ sơ, đạt 94%; 162 hồ sơ đang giải quyết trong hạn và chỉ có 1 hồ sơ quá hạn. Những con số này cho thấy việc ứng dụng công nghệ, đổi mới phương thức điều hành đang từng bước nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Những kết quả từ cơ sở cho thấy nghị quyết chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ sát thực tế, có địa chỉ, có người chịu trách nhiệm và được kiểm tra, đôn đốc thường xuyên. Từ vùng sản xuất liên kết, những tuyến đường, khu dân cư được chỉnh trang đến hồ sơ hành chính được giải quyết nhanh hơn, chuyển đổi số được đẩy mạnh, hiệu quả của việc đưa nghị quyết vào cuộc sống đang được thể hiện bằng những kết quả cụ thể.
