Quốc hội Việt Nam và những dấu ấn năm Ngọ

80 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 7 năm Ngọ: Giáp Ngọ 1954 (thuộc Khóa I); Bính Ngọ 1966 (Khóa III); Mậu Ngọ 1978 (Khóa VI); Canh Ngọ 1990 (Khóa VIII); Nhâm Ngọ 2002 (cuối Khóa X); Giáp Ngọ 2014 (Khóa XIII) và Bính Ngọ 2026 (cuối Khóa XV). Trong những năm Ngọ, Quốc hội đều có những quyết nghị về những vấn đề quốc gia đại sự.

80 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 7 năm Ngọ: Giáp Ngọ 1954 (thuộc Khóa I); Bính Ngọ 1966 (Khóa III); Mậu Ngọ 1978 (Khóa VI); Canh Ngọ 1990 (Khóa VIII); Nhâm Ngọ 2002 (cuối Khóa X); Giáp Ngọ 2014 (Khóa XIII) và Bính Ngọ 2026 (cuối Khóa XV). Trong những năm Ngọ, Quốc hội đều có những quyết nghị về những vấn đề quốc gia đại sự.

1

-

Giáp Ngọ 1954:

Lúc này, cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược đang tiến đến hồi kết; Hội nghị Geneva cũng sắp kết thúc, công tác ngoại giao đạt kết quả tốt. Ngày 27/7/1954, tại chiến khu Việt Bắc, Ban Thường trực Quốc hội đã tổ chức phiên họp mở rộng gồm toàn thể Ban Thường trực và các đại biểu Quốc hội đang có mặt ở Việt Bắc để thảo luận bản Hiệp định đình chiến. Hội nghị đã nhất trí nhận định rằng, việc “ký hiệp định Geneva là một thắng lợi lớn” của chúng ta. Quốc hội đã gửi điện mừng với sự tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; Quốc hội đã thông qua Nghị quyết và lời hiệu triệu gửi đến các đại biểu Quốc hội và toàn thể Nhân dân.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước chụp ảnh lưu niệm với Đoàn đại biểu Đảng bộ Quốc hội tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước chụp ảnh lưu niệm với Đoàn đại biểu Đảng bộ Quốc hội tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

2

-

Bính Ngọ 1966:

Từ năm 1965 đến giữa năm 1975, đất nước ta trong tình thế cả nước có chiến tranh. Do không thể tổ chức đều đặn được các kỳ họp thường niên nên tại Kỳ họp thứ Hai ngày 10/4/1965, Quốc hội Khóa III đã ra Nghị quyết giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) xử lý một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Quốc hội để phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh.

Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội khẳng định, miền Bắc là hậu phương lớn, có vị trí quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc ta. Vì vậy những nhiệm vụ của kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế hai năm 1966-1967 đều phải thấu suốt tinh thần bảo đảm cho Nhân dân làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn trong cuộc chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

Quốc hội quyết nghị: Giao UBTVQH xét duyệt các chỉ tiêu kế hoạch nhà nước năm 1966. Ngày 7/11/1966, UBTVQH đã ra Nghị quyết thông qua những chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch nhà nước năm 1966 và sau đó thông qua phương hướng, nhiệm vụ cùng những chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch nhà nước năm 1967.

Từ năm 1965 trở đi các kế hoạch nhà nước hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội đều là những kế hoạch thời chiến, nhằm thực hiện ba nhiệm vụ chủ yếu: Động viên cao độ lực lượng về mọi mặt để chiến đấu và chiến thắng, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam; giữ vững và phát triển sản xuất phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt đồng thời chuẩn bị cho lâu dài mai sau; bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của đời sống về ăn, ở, mặc, đi lại, bảo vệ sức khỏe và học hành.

Phương hướng, nhiệm vụ, các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch nhà nước các năm tiếp theo đều được UBTVQH thông qua từ cuối năm trước để thực hiện cho năm sau.

3

-

Mậu Ngọ 1978:

Đây là năm bản lề của Quốc hội Khóa VI (1976-1981). Năm 1978, Quốc hội có nhiệm vụ nặng nề là tiếp tục hoàn thiện bản Dự thảo Hiến pháp thứ 3 của nước ta. Trước đó, đầu nhiệm kỳ, Quốc hội đã thành lập Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 36 thành viên; sau hơn một năm hoạt động, trên cơ sở tổng kết 2 bản Hiến pháp năm 1946 và 1959, đến đầu năm 1978 đã có bản Dự thảo đầu tiên đưa ra lấy ý kiến cán bộ và Nhân dân. Đây là một cuộc vận động sinh hoạt chính trị đặc biệt, vừa phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, vừa tạo điều kiện để Nhân dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước.

Đợt 1, lấy ý kiến cán bộ được thực hiện vào đầu năm 1978 gồm cán bộ trung và cao cấp với 44.500 người tham gia thảo luận. Sau đó, Dự thảo Hiến pháp được chỉnh lý trên cơ sở các ý kiến đóng góp của cán bộ trung, cao cấp. Tiếp đó, đợt 2 được công bố Dự thảo mới để Nhân dân góp ý. Gần 20 triệu lượt người thuộc mọi thành phần đã tích cực hưởng ứng tham gia thảo luận. Dự thảo Hiến pháp mới đã thể hiện được ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, phù hợp với tinh thần và nội dung Nghị quyết Đại hội IV của Đảng. Với tinh thần trách nhiệm cao, Quốc hội Khóa VI đã thống nhất thông qua Hiến pháp mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước dự Lễ kỷ niệm 80 năm Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam. Ảnh: Lâm Hiển

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước dự Lễ kỷ niệm 80 năm Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam. Ảnh: Lâm Hiển

4

-

Canh Ngọ 1990:

Năm 1990 là năm thứ ba của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa VIII (1987-1992) - là khóa Quốc hội đầu tiên của công cuộc Đổi mới - xóa bỏ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp; thực thi nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước (sau này là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN).

Hiến pháp thời kỳ kế hoạch hóa quan liêu, bao cấp và Hiến pháp thời kỳ đổi mới có rất nhiều nội dung khác xa nhau. Bởi vậy, Quốc hội Khóa VIII có nhiệm vụ khá nặng nề là phải sửa đổi căn bản, toàn diện Hiến pháp năm 1980 cho phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước. Trong đó, năm Canh Ngọ 1990, Quốc hội có trọng trách lớn là phải khởi thảo và hoàn thành Dự thảo Hiến pháp mới để lấy ý kiến Nhân dân. Trước đó, tại Kỳ họp thứ Năm (năm 1989), Quốc hội đã thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp gồm 28 thành viên do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch Ủy ban.

Với tinh thần nỗ lực vượt bậc của Ủy ban sửa đổi Hiến pháp, tháng 5/1990 bản Dự thảo lần thứ nhất (Dự thảo 1) đã được hoàn thành. Cách thức hoàn thiện Dự thảo lần này có những đổi mới quan trọng. Thành phần tham gia ý kiến vào Dự thảo gồm cán bộ trung, cao cấp trong cả nước, các cơ quan của Quốc hội (Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội), các cán bộ lão thành cách mạng.

Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến đóng góp, Ủy ban sửa đổi Hiến pháp đã chỉnh lý, trình xin ý kiến Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương những vấn đề lớn; sau đó tiếp tục chỉnh lý thành Dự thảo 2. Tại Kỳ họp thứ Chín, Quốc hội Khóa VIII xem xét một lần nữa; Ủy ban sửa đổi Hiến pháp tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội và chỉnh lý thành Dự thảo 3. Dự thảo này được đưa ra lấy ý kiến toàn thể cán bộ và Nhân dân trong cả nước.

Số liệu thống kê cho thấy, hơn 9,2 triệu người đã tham gia các cuộc thảo luận đóng góp ý kiến vào Dự thảo này. Do phải sửa đổi căn bản, toàn diện nên cuối nhiệm kỳ Khóa VIII, Hiến pháp sửa đổi mới được thông qua, đó là Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp mới đã khẳng định toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; tổ chức bộ máy và hoạt động của Nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp.

5

-

Nhâm Ngọ 2002:

Đây là năm giáp lai cuối Khóa X sang đầu Khóa XI của Quốc hội. Quốc hội Khóa X tiến hành tổng kết hoạt động cả nhiệm kỳ và Quốc hội Khóa XI đã có nhiều quyết định quan trọng. Ngày 23/7/2002 tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội Khóa XI đã quyết nghị tổ chức bộ máy và nhân sự ở Trung ương nhiệm kỳ 2002 - 2007.

Quốc hội bầu: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Hội đồng Quốc phòng và An ninh (gồm Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch nước; Phó Chủ tịch Hội đồng là Thủ tướng Chính phủ và 4 thành viên là Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao).

Bộ máy của Quốc hội: gồm UBTVQH; các cơ quan của Quốc hội (Hội đồng Dân tộc và 7 Ủy ban). UBTVQH có 13 thành viên (Chủ tịch Quốc hội, 3 Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm 6 Ủy ban (Pháp luật; Kinh tế và Ngân sách; Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Các vấn đề xã hội; Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Đối ngoại); riêng Ủy ban Quốc phòng và An ninh do một Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm nhiệm; và Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội kiêm Trưởng đoàn Thư ký kỳ họp (nay là Tổng Thư ký Quốc hội).

Trích bài viết trên báo Tiếng gọi phụ nữ, số 11, ra ngày 8/1/1946

Trích bài viết trên báo Tiếng gọi phụ nữ, số 11, ra ngày 8/1/1946

Bộ máy của Chính phủ: Chính phủ có 30 thành viên, bao gồm: Thủ tướng Chính phủ, 3 Phó Thủ tướng; 20 Bộ trưởng đứng đầu 20 bộ (Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Tư pháp, Tài chính, Thương mại, Lao động, Thương binh và Xã hội, Giao thông Vận tải, Xây dựng, Thủy sản, Văn hóa - Thông tin, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công nghiệp, Kế hoạch và Đầu tư, Y tế, Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Bưu chính, Viễn thông, Nội vụ); 5 thành viên đứng đầu các cơ quan ngang bộ (Tổng Thanh tra Chính phủ; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Bộ trưởng - Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục, Thể thao; Bộ trưởng - Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) và 1 thành viên là Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ. Chính phủ còn có 8 cơ quan thuộc Chính phủ.

Tháng 12/2002, tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội đã quyết nghị Phương án xây dựng công trình thủy điện Sơn La tại xã Ít Ong, huyện Mường La, Sơn La với các chỉ số: mực nước dâng từ 205m đến 215m; công suất lắp máy từ 1.970MW đến 2.400MW; sản lượng điện trung bình hàng năm từ 7.555 triệu kWh đến 9.209 triệu kWh; vốn đầu tư từ 31.000 tỷ đồng đến 37.000 tỷ đồng. Quốc hội giao Chính phủ chỉ đạo thực hiện.

6

-

Giáp Ngọ 2014:

Trong năm Giáp Ngọ này, Quốc hội Khóa XIII có một quyết sách rất quan trọng về hoạt động giám sát tối cao, đó là quyết nghị lấy phiếu tín nhiệm lần thứ 2 tại Kỳ họp thứ Tám đối với các chức danh được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Có thể nói, trong 7 hình thức giám sát tối cao của Quốc hội, thực tế cho thấy 2 hình thức có hiệu lực và hiệu quả cao nhất, đó là chất vấn và lấy phiếu tín nhiệm. Riêng hình thức lấy phiếu tín nhiệm, dư luận xã hội cho rằng, nhiệm kỳ Khóa XIII vừa là mở đầu cho hình thức giám sát này, vừa là lấy phiếu 2 lần trong một nhiệm kỳ. Việc lấy phiếu tín nhiệm 2 lần trong một nhiệm kỳ hoàn toàn đạt được yêu cầu của Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 của Quốc hội Khóa XIII, đó là “giúp cho người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động”. Các khóa còn lại, Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm một lần vào giữa nhiệm kỳ.

7

-

Bính Ngọ 2026:

Đây là thời gian cuối nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XV. Trước đó, tại Kỳ họp thứ Mười - kỳ họp cuối cùng của nhiệm kỳ, Quốc hội đã thông qua 51 luật, 8 nghị quyết quy phạm pháp luật và tổng kết hoạt động trong nhiệm kỳ tính đến tháng 12/2025. Ngày 6/1/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã trang trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 - 6/1/2026). Lễ kỷ niệm diễn ra với quy mô lớn, trang trọng, hào khí, vui tươi, phấn khởi và mang tính động viên cao.

Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội

Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội

Trong thời gian này, Quốc hội cũng đang khẩn trương quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; chuẩn bị chu đáo mọi mặt cho cuộc bầu cử ĐBQH Khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 vào ngày 15/3/2026. Công tác chuẩn bị được tiến hành theo đúng tinh thần Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 16/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng với 8 yêu cầu quan trọng. Trong đó, có yêu cầu: “Gắn kết quả nhân sự của đại hội đảng các cấp và quy hoạch cán bộ với công tác chuẩn bị giới thiệu những người tiêu biểu, có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, đủ tiêu chuẩn, có năng lực và điều kiện thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH và đại biểu HĐND...”.

Theo văn hóa phương Đông, những năm Ngọ thường mang lại nhiều nguồn năng lượng tích cực, tốc độ và sự bền bỉ. Xuân Bính Ngọ 2026, tin tưởng và kỳ vọng, Quốc hội Việt Nam sẽ tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực các hoạt động, cùng các cơ quan trong hệ thống chính trị đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước trong kỷ nguyên mới.

Ts. Bùi Ngọc Thanh - Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/quoc-hoi-viet-nam-va-nhung-dau-an-nam-ngo-10406890.html