Quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy Quốc hội
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký Quyết định số 172 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy Quốc hội.
Quyết định của Bộ Chính trị nêu rõ, Đảng ủy Quốc hội là cấp ủy trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng đoàn Kiểm tra, giám sát số 10 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư chủ trì hội nghị thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra đợt 2 đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, chiều 26/5.
Đảng ủy Quốc hội có chức năng lãnh đạo, chỉ đạo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, tổ đảng đoàn đại biểu Quốc hội và các tổ chức đảng trực thuộc theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương.
Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo Đảng bộ thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quốc hội; đề xuất, kiến nghị với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những vấn đề có liên quan đến sự lãnh đạo của Trung ương đối với Quốc hội, Đảng bộ Quốc hội.
Bộ Chính trị quy định 11 nhiệm vụ, quyền hạn của Đảng ủy Quốc hội. Trong đó, Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo Quốc hội thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo cụ thể hóa các chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ; quyết định Chương trình làm việc toàn khóa, Quy chế làm việc của Đảng ủy; lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính trị, tư tưởng, học tập lý luận chính trị, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...
Cùng với đó, Bộ Chính trị quy định 14 nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội.
Cụ thể, Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội trong việc cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và Đảng ủy, bảo đảm hoạt động theo đúng đường lối, chủ trương, quy định của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.
Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội cần lãnh đạo các tổ chức đảng trực thuộc thực hiện các chủ trương của Trung ương về nhiệm vụ xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đề cao cảnh giác, giữ gìn bí mật của Đảng và Nhà nước.
Đặc biệt, Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội sẽ lãnh đạo nhiệm vụ lập hiến, lập pháp; hoạt động giám sát tối cao; xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Trong đó, Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo Quốc hội thực hiện nhiệm vụ lập hiến, lập pháp theo đúng chủ trương, định hướng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị; quyết định và thực hiện chương trình xây dựng pháp luật; có biện pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội; thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, kết luận của Đảng trong quá trình xây dựng, thẩm tra, xem xét và thông qua các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo việc xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, kết luận của Đảng, tập trung chủ yếu vào các nội dung: phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, an ninh, quốc phòng và đối ngoại.
Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội cũng lãnh đạo việc quyết định và thực hiện chương trình giám sát của Quốc hội, bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội; hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội và giám sát việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn; việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
Tổ chức bộ máy của Đảng ủy Quốc hội
Theo Quyết định số 172 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng ủy, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy do Bộ Chính trị chỉ định.
Số lượng, cơ cấu Đảng ủy, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư do Bộ Chính trị xem xét, quyết định.
Ban Thường vụ định hướng cơ cấu gồm: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội là Bí thư Đảng ủy; Ủy viên Bộ Chính trị hoặc Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy; các Phó Chủ tịch Quốc hội; các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tổng Kiểm toán Nhà nước; 2-3 Phó Bí thư Đảng ủy chuyên trách; 2 cơ cấu khác do Đảng ủy Quốc hội đề xuất.
Tập thể Thường trực Đảng ủy gồm: Bí thư; Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Bí thư Đảng ủy chuyên trách là Ủy viên Trung ương Đảng (nếu có); các Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy là Phó Chủ tịch Quốc hội.
Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy tập thể Thường trực Đảng ủy được sử dụng bộ máy các đảng ủy trực thuộc, các cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ.
Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy do Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ định; số lượng Ủy viên Ủy ban Kiểm tra từ 9-11, gồm một số Ủy viên kiêm nhiệm và chuyên trách, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra là Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy kiêm nhiệm.
Đảng ủy Quốc hội được lập 4 cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, gồm: Ban Tổ chức, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra, Ban Tuyên giáo và Dân vận, Văn phòng. Trưởng các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy là các Ủy viên Ban Thường vụ kiêm nhiệm, mỗi cơ quan bố trí không quá 4 cấp phó chuyên trách (đến hết năm 2030 số lượng cấp phó các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tối đa không quá 3).
Ban Thường vụ Đảng ủy xem xét, quyết định bố trí cơ quan tham mưu, giúp việc chuyên trách tổ chức Đoàn Thanh niên cùng cấp. Tổng số cán bộ chuyên trách các cơ quan tham mưu, giúp việc (kể cả Đoàn Thanh niên) do Ban Thường vụ Đảng ủy quyết định trong tổng biên chế được giao.
Cơ quan Đảng ủy gồm các Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội chuyên trách, cán bộ, công chức, người lao động ở các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Đảng ủy và cơ quan Đoàn Thanh niên. Một Phó Bí thư Đảng ủy chuyên trách là Ủy viên Trung ương Đảng (trường hợp chưa có Ủy viên Trung ương Đảng là Phó Bí thư chuyên trách thì phân công 1 Phó Bí thư chuyên trách) làm Thủ trưởng Cơ quan Đảng ủy, chủ tài khoản của Đảng ủy; các Phó Bí thư Đảng ủy chuyên trách là phó thủ trưởng cơ quan Đảng ủy.
Cơ quan Đảng ủy trực tiếp quản lý hành chính, điều phối hoạt động các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Đảng ủy; thực hiện quy trình quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, công tác đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, xếp loại, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, nghiên cứu khoa học, quản lý nội bộ đối với cán bộ, công chức, người lao động chuyên trách công tác đảng và cơ quan Đoàn Thanh niên theo phân công, phân cấp; được sử dụng kinh phí, con dấu của Đảng ủy trong hoạt động.
Đảng bộ cơ quan Đảng ủy (gồm tổ chức đảng và đảng viên công tác ở các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Đảng ủy và Đoàn Thanh niên) trực thuộc Đảng ủy Quốc hội; bố trí 1 Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Quốc hội là Ủy viên Trung ương Đảng làm Bí thư, 1 Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Quốc hội làm Phó Bí thư Đảng ủy cơ quan. Số lượng, cơ cấu của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy cơ quan thực hiện theo quy định, hướng dẫn của Trung ương.
Đảng ủy Quốc hội có trụ sở làm việc đặt tại Cơ quan Quốc hội, có con dấu, tài khoản riêng, được cấp kinh phí, trang bị cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động theo quy định.











