Quy định mới về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh
Quy định số 224-QĐ/TW xác định rõ quyền và giới hạn tham gia đầu tư kinh doanh của đảng viên theo chức danh, vị trí công tác, đồng thời yêu cầu kiểm soát...
Ngày 14/10/2026, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV ngày 16/10, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày chuyên đề về Quy định số 224-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh. Ảnh: VGP.
Theo Quy định, đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh phải tuân thủ pháp luật, những điều đảng viên không được làm; gương mẫu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động và người tiêu dùng; giữ gìn đạo đức kinh doanh, xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, thực hành kinh doanh có trách nhiệm.
Quy định nêu rõ, quyền sở hữu, quyền tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của đảng viên được bảo vệ theo pháp luật. Cấp ủy, tổ chức đảng không đặt thêm điều kiện, thủ tục hạn chế quyền đầu tư kinh doanh hợp pháp ngoài những nội dung được quy định và hướng dẫn của Ban Bí thư.
Quyền và giới hạn tham gia đầu tư kinh doanh được xác định theo chức danh, vị trí công tác, chức trách, nhiệm vụ được giao. Trường hợp đảng viên giữ nhiều chức danh, thực hiện nhiều nhiệm vụ hoặc thuộc nhiều nhóm đối tượng, phải tuân thủ giới hạn tương ứng với từng chức danh, nhiệm vụ, nhóm đối tượng, bảo đảm yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích và bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật công tác.
Đáng chú ý, đảng viên trong khu vực công không được sử dụng trái quy định tài sản Nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công khác để phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh của bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích. Đồng thời, không được đầu tư kinh doanh vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực mà mình trực tiếp quyết định, quản lý; không để hoạt động đầu tư kinh doanh ảnh hưởng đến việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Việc cấp có thẩm quyền chấp thuận đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh là yêu cầu trong nội bộ Đảng, không thay thế các điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Quy định phân loại hoạt động đầu tư kinh doanh thành bốn nhóm để xác định quyền và giới hạn tham gia. Nhóm thứ nhất là hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập. Nhóm thứ hai là đầu tư kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành. Nhóm thứ ba là đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành. Nhóm thứ tư là đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Đối với đảng viên ngoài khu vực công, Quy định cho phép thực hiện tất cả các hoạt động thuộc bốn nhóm và hoạt động đầu tư kinh doanh khác mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng. Trường hợp được giao thực hiện nhiệm vụ công, đảng viên không được lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ trong Đảng hoặc quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tạo lợi thế bất bình đẳng, tác động trái quy định nhằm phục vụ lợi ích riêng, lợi ích nhóm.
Với đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, được thực hiện hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và hoạt động đầu tư kinh doanh thuộc nhóm thứ hai mà không phải xin chấp thuận. Tuy nhiên, nhóm này không được thực hiện hoạt động thuộc nhóm thứ ba, thứ tư và không được duy trì khoản đầu tư kinh doanh có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát.
Đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý được thực hiện hoạt động thuộc nhóm thứ nhất, thứ hai mà không phải xin chấp thuận. Nếu không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích, họ được thực hiện hoạt động thuộc nhóm thứ ba sau khi được chấp thuận. Cán bộ, công chức không được thực hiện hoạt động thuộc nhóm thứ tư; người làm việc tại vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao cũng không được thực hiện hoạt động thuộc nhóm thứ ba và thứ tư.
Đối với Đảng viên là viên chức, ngoài hoạt động thuộc nhóm thứ nhất, thứ hai, viên chức không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được thực hiện hoạt động thuộc nhóm thứ ba mà không phải xin chấp thuận. Viên chức không giữ chức vụ quản lý và không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao được thực hiện hoạt động thuộc nhóm thứ tư sau khi được cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ chấp thuận theo hướng dẫn của Ban Bí thư, bảo đảm không ảnh hưởng đến chức trách, nhiệm vụ và chất lượng dịch vụ công.
Quy định cũng cho phép viên chức không giữ chức vụ quản lý tạm thời rời vị trí công tác trong thời hạn nhất định để thành lập, chi phối, quản lý, điều hành tổ chức kinh tế. Đối tượng, điều kiện, thời hạn, quyền, nghĩa vụ, chế độ và việc tiếp nhận trở lại cơ quan, đơn vị do cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ quyết định theo hướng dẫn của Ban Bí thư. Trong thời gian này, viên chức vẫn phải kiểm soát xung đột lợi ích. Viên chức giữ chức vụ quản lý không được đồng thời quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cử tham gia quản lý hoặc làm đại diện phần vốn, tài sản của đơn vị theo pháp luật.
Đối với đảng viên đang công tác, phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, hoạt động thuộc nhóm thứ nhất, thứ hai được thực hiện mà không phải xin chấp thuận. Hoạt động thuộc nhóm thứ ba được thực hiện sau khi được chấp thuận nếu đảng viên không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích. Việc thực hiện phải bảo đảm bí mật Nhà nước, bí mật công tác, không phương hại đến quốc phòng, an ninh. Trong thời gian công tác, phục vụ, đảng viên không được quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền phân công, giao nhiệm vụ.
Đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước, ngoài hoạt động thuộc nhóm thứ nhất, thứ hai, Quy định cho phép mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện quyền của cổ đông, thành viên tại doanh nghiệp do mình quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước theo pháp luật. Việc thực hiện quyền đối với phần vốn cá nhân phải tách bạch với chức trách quản lý, đại diện phần vốn nhà nước và bảo đảm kiểm soát xung đột lợi ích.
Nhóm này được thực hiện hoạt động thuộc nhóm thứ ba, thứ tư sau khi được chấp thuận, nhưng chỉ áp dụng đối với tổ chức kinh tế ngoài khu vực công và hoạt động không thuộc ngành, lĩnh vực có lợi ích liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước mà đảng viên quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước.
Quy định khuyến khích đảng viên trong khu vực công sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác, nghỉ hưu phát huy chuyên môn, kinh nghiệm, tri thức và nguồn lực hợp pháp để khởi nghiệp, đầu tư kinh doanh, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Đảng viên không còn công tác trong khu vực công được thực hiện các hoạt động như đảng viên ngoài khu vực công, trừ những hoạt động bị hạn chế có liên quan đến lĩnh vực, công việc đã phụ trách trong phạm vi và thời hạn theo quy định của pháp luật. Trường hợp thôi giữ chức vụ nhưng tiếp tục công tác trong khu vực công, đảng viên thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo chức danh, vị trí công tác mới, đồng thời tuân thủ các hạn chế liên quan lĩnh vực, công việc đã phụ trách.
Về kiểm soát xung đột lợi ích, việc nhận diện, đánh giá phải căn cứ mối liên hệ giữa lợi ích kinh tế của đảng viên hoặc người có liên quan với chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và công việc được giao. Lợi ích được xem xét gồm lợi ích trực tiếp, gián tiếp và lợi ích thực tế được thụ hưởng, không phụ thuộc vào người đứng tên sở hữu tài sản hoặc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.
Khi phát sinh xung đột lợi ích hoặc khi cấp có thẩm quyền phát hiện, yêu cầu, đảng viên phải kịp thời báo cáo; không tham gia xử lý công việc có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép. Cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định biện pháp kiểm soát phù hợp với tính chất, mức độ xung đột lợi ích và theo dõi, giám sát việc chấp hành.
Ban Bí thư có trách nhiệm ban hành hướng dẫn thực hiện thống nhất trong toàn Đảng. Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất tiêu chí xác định vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích; theo dõi, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và đề xuất sửa đổi, bổ sung Quy định. Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện kiểm tra, giám sát theo chức năng, thẩm quyền.
Quy định số 224-QĐ/TW có hiệu lực kể từ ngày ký, thay thế Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh hợp pháp trước ngày Quy định mới có hiệu lực được tiếp tục thực hiện cho đến khi pháp luật có quy định khác; hoạt động bắt đầu sau thời điểm này phải thực hiện theo Quy định số 224-QĐ/TW.
